Cựu chiến binh

LŨY TRE ĐÁNH ĐUỔI QUÂN THÙ

Bắc Ninh21/05/2026PHẠM XUÂN TÁI2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Mùa đông năm 1951, làng Đông Phú nằm ven bờ sông Lam chìm trong màn sương lạnh buốt. Những lũy tre xanh bao quanh làng đã đứng đó từ bao đời, che nắng chắn gió cho dân làng. Nhưng trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, lũy tre ấy còn trở thành bức thành kiên cố bảo vệ quê hương. Trong làng, ai cũng biết ông Bảy Lâm là người gắn bó với lũy tre nhất. Ông đã ngoài năm mươi tuổi, lưng hơi còng vì những năm tháng làm ruộng, nhưng đôi mắt vẫn sáng và giọng nói vẫn sang sảng. Mỗi buổi chiều, ông thường chống cuốc đi dọc bờ tre, kiểm tra từng đoạn như người lính gác thành. Một hôm, đội du kích xã họp khẩn cấp tại đình làng. Anh đội trưởng Tư Khánh trải tấm bản đồ lên chiếc phản gỗ rồi nói nhỏ: – Bọn địch chuẩn bị càn vào Đông Phú. Chúng nghi trong làng có bộ đội trú quân. Không khí trong đình lặng đi. Ngoài trời, gió thổi qua hàng tre nghe xào xạc như tiếng thì thầm. Ông Bảy Lâm vuốt chòm râu bạc: – Nếu chúng vào bằng đường cái thì ta khó giữ. Nhưng còn lũy tre… Ta sẽ biến cả làng thành trận địa. Mọi người nhìn nhau. Ý nghĩ ấy nhanh chóng được tán thành. Ngay đêm hôm đó, dân làng bắt đầu hành động. Thanh niên đào giao thông hào men theo lũy tre. Các bà, các chị đan chông tre, giấu dưới những hố đất phủ lá khô. Trẻ con được giao nhiệm vụ canh gác đầu làng. Lũy tre xanh hiền hòa ngày nào bỗng trở thành một pháo đài bí mật. Ba ngày sau, tin báo quân Pháp từ đồn huyện kéo xuống. Chúng có hơn một trung đội, mang theo súng máy và cả chó nghiệp vụ. Mục tiêu của chúng là lục soát toàn bộ Đông Phú. Sáng sớm hôm ấy, sương còn phủ trắng mặt sông thì tiếng giày đinh đã vang lên ngoài đầu làng. Từ trên gác chuông đình, cậu bé liên lạc tên Hòa thổi ba hồi còi báo động. Dân làng lập tức tản xuống hầm bí mật. Đội du kích chỉ còn mười hai người, chia nhau ẩn sau lũy tre. Tên quan ba người Pháp cưỡi xe jeep đi đầu, ngó quanh rồi cười nhạt: – Một cái làng nhỏ thôi. Chúng ta sẽ quét sạch lũ Việt Minh. Hắn chưa dứt lời thì chiếc xe bất ngờ sụp xuống hố chông ngay giữa đường. Tiếng la thất thanh vang lên. Bọn lính phía sau hốt hoảng dừng lại. Ngay lúc đó, từ sau lũy tre, tiếng súng trường nổ rền. Đoàng! Đoàng! Hai tên lính ngã gục. Bọn địch lập tức bắn trả dữ dội. Đạn cày nát những bụi chuối ven đường, nhưng đội du kích đã nhanh chóng đổi vị trí theo giao thông hào. Tre làng ken dày, thân cứng như thép. Nhiều viên đạn găm vào thân tre phát ra tiếng “phập” khô khốc. Anh Tư Khánh bò dọc chiến hào, hô nhỏ: – Không được để chúng lọt vào giữa làng! Một tổ du kích vòng ra sau lưng địch, dùng mìn tự tạo đánh vào đội hình. Tiếng nổ vang trời khiến quân Pháp rối loạn. Chó nghiệp vụ sủa inh ỏi rồi giật lùi vì dẫm phải chông tre. Bọn lính bắt đầu hoang mang. Chúng không ngờ một ngôi làng nhỏ lại có thể chống trả quyết liệt đến vậy. Giữa lúc giao tranh ác liệt, ông Bảy Lâm bất ngờ xuất hiện ở đoạn lũy tre phía đông. Ông cầm bó đuốc lớn, châm lửa vào đống rơm đã chuẩn bị sẵn. Khói bốc mù mịt, che kín con đường tiến quân của địch. – Bà con ơi, giữ làng! – ông hét lớn. Tiếng hô vang lên khắp nơi như sấm dậy. Những người nông dân vốn chỉ quen cày ruộng giờ đây cầm giáo tre, mã tấu lao ra phối hợp với du kích. Phụ nữ tiếp đạn, cứu thương. Các cụ già nấu nước chuyển lên chiến hào. Cuộc chiến kéo dài suốt buổi sáng. Bọn địch càng tiến càng bị mắc bẫy. Hết hố chông lại đến dây mìn, hết giao thông hào lại gặp lũy tre chắn ngang. Tên quan ba tức tối ra lệnh đốt làng. Nhưng đúng lúc ấy, từ phía bờ sông vang lên tiếng súng lớn của bộ đội chủ lực vừa kịp chi viện. Đạn đại liên quét mạnh khiến quân Pháp hoảng loạn tháo chạy. Chúng bỏ lại vài xác lính và chiếc xe jeep cháy đen bên đầu làng. Khi tiếng súng im hẳn, Đông Phú hiện ra giữa khói chiều. Một vài mái tranh bị cháy sém, nhiều thân tre gãy đổ vì đạn bom, nhưng ngôi làng vẫn đứng vững. Ông Bảy Lâm ngồi tựa vào gốc tre, vai bị thương bởi mảnh đạn. Cậu bé Hòa chạy đến đỡ ông: – Ông Bảy, mình thắng rồi! Ông nhìn lũy tre đang rung lên trong gió, khẽ cười: – Tre làng mình còn đứng… thì giặc không thể thắng được đâu con. Mọi người lặng đi. Buổi chiều hôm ấy, dân làng cùng nhau dựng lại những đoạn tre bị gãy. Những cây tre non được trồng thêm dọc bờ hào. Tiếng cuốc đất, tiếng trẻ con cười vang lên giữa ánh hoàng hôn đỏ rực. Từ đó, câu chuyện “lũy tre đánh đuổi quân thù” lan khắp vùng. Nhiều làng khác học theo cách đánh của Đông Phú: lấy tre làm thành, lấy lòng dân làm sức mạnh. Năm tháng trôi qua, chiến tranh rồi cũng kết thúc. Đông Phú trở lại thanh bình. Những đứa trẻ lớn lên dưới bóng tre xanh, nghe các cụ kể về trận chiến năm xưa bằng ánh mắt đầy tự hào. Lũy tre vẫn còn đó. Mỗi khi gió thổi qua, hàng tre lại xào xạc như đang kể chuyện về những con người áo nâu chân đất đã dũng cảm đứng lên giữ làng, giữ nước. Và trong ký ức của dân làng Đông Phú, lũy tre không chỉ là cây cối quê hương. Đó còn là biểu tượng của lòng yêu nước, của sự kiên cường và tinh thần bất khuất của nhân dân Việt Nam trong những năm tháng kháng chiến gian lao.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn