Lý Công Uẩn
Sau khi lên ngôi, với tầm nhìn chiến lược, nhận thấy “thành Hoa Lư ẩm thấp chật hẹp, không đủ làm chỗ ở của đế vương”, vua Lý Thái Tổ đã đưa ra quyết định mang tính lịch sử là dời đô.
Vua tự tay viết chiếu truyền rằng: “Ngày xưa, nhà Thương đến đời Bàn canh 5 lần dời đô, nhà Chu đến Thành Vương 3 lần dời đô, há phải các vua thời Tam đại ấy theo ý riêng tự dời đô xằng bậy đâu. Làm như thế cốt để mưu nghiệp lớn, chọn ở chỗ giữa, làm kế cho con cháu muôn vạn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu có chỗ tiện thì dời đổi, cho nên vận nước lâu dài, phong tục giàu thịnh. Thế mà hai nhà Đinh, Lê lại theo ý riêng, coi thường mệnh trời, không noi theo việc cũ Thương Chu, cứ chịu yên đóng đô nơi đây, đến nỗi thế đại không dài, vận số ngắn ngủi, trăm họ tổn hao, muôn vật không hợp. Trẫm rất đau đớn, không thể không dời. Huống chi thành Đại La, đô cũ của Cao Vương (3), ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng cuộn hổ ngồi, chính giữa nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước. Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh. Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời…”.
Quyết định dời đô của vua Lý Thái Tổ nhận được sự đồng thuận của tất cả quần thần trong triều. Mùa thu năm 1010, Vua Lý Thái Tổ công bố Thiên Đô chiếu (Chiếu Dời Đô) để dời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) về thành Đại La (Thăng Long).
Ngay sau khi dời đô, Lý Thái Tổ đã gấp rút cho xây dựng Kinh thành Thăng Long. Mộc bản sách Đại Việt sử ký toàn thư, quyển 2, mặt khắc 3 chép “… xây dựng các cung điện trong kinh thành Thăng Long, phía trước dựng điện Càn Nguyên làm chỗ coi chầu, bên tả làm điện Tập Hiền, bên hữu dựng điện Giảng Võ. Lại mở cửa Phi Long thông với cung Nghêng Xuân, cửa Đan Phượng thông với cửa Uy Viễn, hướng chính nam dựng điện Cao Minh, đều có 3 thềm rồng, trong thềm rồng có hành lang dẫn ra xung quanh bốn phía. Sau điện Càn Nguyên dựng hai điện Long An, Long Thụy làm nơi vua nghỉ. Bên tả xây điện Nhật Quang, bên hữu xây điện Nguyệt Minh, phía sau dựng hai cung Thúy Hoa, Long Thụy làm chỗ ở cho cung nữ. Dựng kho tàng, đắp thành, đào hào. Bốn mặt thành mở bốn cửa: phía đông gọi là cửa Tường Phù, phía tây gọi là cửa Quảng Phúc, phía nam gọi là cửa Đại Hưng, phía bắc gọi là cửa Diệu Đức. Lại ở trong thành làm chùa ngự Hưng Thiên và tinh lâu Ngũ Phượng. Ngoài thành về phía nam dựng chùa Thắng Nghiêm”. Đầu năm 1011, việc xây dựng hoàn thành.
Việc dời đô là dấu ấn to lớn đầu tiên mà Lý Thái Tổ để lại cho hậu thế. Đây là một bước ngoặt lớn, đánh dấu sự trưởng thành của dân tộc Đại Việt. Dân tộc Việt không cần phải sống phòng thủ, phải dựa vào thế hiểm trở như ở Hoa Lư để đối phó với quân thù. Bên cạnh đó, quyết định dời đô của Đức vua Lý Thái Tổ đã mở ra thời kỳ phát triển huy hoàng của Kinh đô Thăng Long và quốc gia Đại Việt. Thực tế đã chứng minh, Thăng Long – Hà Nội đã bừng sáng, vươn mình với vị thế mới. Trải qua hơn 1000 năm với bao thăng trầm của Thủ đô và đất nước, Thăng Long – Hà Nội – hình tượng tiêu biểu nhất cho “khí phách cha ông, hồn thiêng sông núi” vẫn luôn vững vàng, hiên ngang, xứng đáng là kinh đô của các vương triều, là Thủ đô ngàn năm văn hiến, anh hùng của cả nước.
Từ những quyết sách đầu tiên, vua Lý Công Uẩn đã thực hiện nhiều chính sách để ổn định xã hội, phát triển kinh tế, chính trị, văn hoá đất nước. Nhìn chung, nước ta dưới thời vua Lý Thái Tổ trị vì rất ổn định. Và từ những nền móng mà vua Lý Công Uẩn xây dựng đã ảnh hưởng đến vận mệnh đất nước ngàn năm sau, giúp nhà Lý đưa Đại Việt trở thành quốc gia hùng mạnh, vương triều Lý được đánh giá là một triều đại lớn có những đóng góp tích cực cho sự phát triển của đất nước Việt Nam và để lại dấu ấn sâu đậm trong xã hội trên mọi phương diện.



