Lý Nhật Tôn – Đấng minh quân khai sáng quốc hiệu Đại Việt
Lý Thánh Tông (1023 – 1072), húy là Lý Nhật Tôn, trị vì đất nước suốt 18 năm (từ năm 1054 đến 1072). Ông là vị vua văn võ song toàn, nổi tiếng với tấm lòng nhân từ, thương dân như con và tinh thần tự tôn dân tộc sâu sắc. Trong thời gian cai trị, ông đã đổi quốc hiệu nước ta từ Đại Cồ Việt thành Đại Việt, cho xây dựng Văn Miếu năm 1070 để tôn vinh đạo học, đồng thời trực tiếp cầm quân chinh phạt tiễu trừ các mối đe dọa ở biên khương, mở ra một thời kỳ thái bình, thịnh vượng độc lập tự chủ cho đất nước.
Trong tiến trình hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, vương triều nhà Lý đứng đó như một mốc son chói lọi, đặt nền móng vững chắc cho nền độc lập bền vững. Nếu như hai vị vua đầu triều đã có công khai mở và định đô Thăng Long, thì người kế thừa vị trí ấy vào năm 1054 – Hoàng đế Lý Thánh Tông Lý Nhật Tôn – chính là người đã đưa vị thế quốc gia lên một tầm cao mới. Cuộc đời ông là một khúc tráng ca rực rỡ, sự hòa quyện hoàn hảo giữa một trái tim nhân ái, bao dung thương dân như con và một khí phách hiên ngang của một bậc đại đế.
Dấu ấn vĩ đại đầu tiên của Lý Nhật Tôn khi vừa bước lên ngai vàng chính là việc khẳng định chủ quyền đanh thép của dân tộc. Ông đã quyết định đổi quốc hiệu nước ta từ Đại Cồ Việt thành Đại Việt. Hai chữ "Đại Việt" vang lên kiêu hãnh như một lời tuyên ngôn với thế giới rằng nước Việt là một quốc gia lớn, độc lập, tự chủ, ngang hàng với các vương triều phương Bắc. Tư tưởng tự tôn dân tộc ấy chính là kim chỉ nam xuyên suốt toàn bộ vương triều của ông.
Sách sử cũ luôn dành những dòng trang trọng nhất để ngợi ca tấm lòng thương dân sâu sắc của Lý Nhật Tôn. Vào một mùa đông giá rét, khi ngự triều giữa kinh thành Thăng Long lộng gió, nhà vua đã chỉ vào tấm áo lông cừu đang mặc và bảo với các quan rằng: "Trẫm ở trong cung sâu, áo ấm chăn dày mà còn lạnh thế này, nghĩ đến những người dân nghèo khổ, những người tù bị cùm chân trong ngục thất, ăn không no, mặc không ấm, dẫu chưa rõ tội danh ra sao thì cũng đã phải chết vì rét mướt. Trẫm vô cùng thương xót". Nhờ tấm lòng đại từ đại bi ấy, ông đã ra lệnh cấp chăn chiếu, cơm ăn cho tù nhân và giảm nhẹ tô thuế cho bách tính. Ngay cả đối với tội phạm, ông cũng luôn nhắc nhở các quan hình án phải xét xử khoan dung, bởi "lòng cha mẹ yêu con thế nào thì Trẫm yêu dân như thế".
Không chỉ là một vị vua chuộng đức trị và nhân từ, Lý Nhật Tôn còn là "kiến trúc sư trưởng" đặt nền móng cho nền giáo dục khoa bảng rực rỡ sau này. Năm 1070, ông đã cho khởi công xây dựng Văn Miếu Thăng Long, nơi thờ Khổng Tử và các bậc hiền triết, đồng thời làm nơi học tập của hoàng thái tử. Sự ra đời của Văn Miếu chính là phát súng đầu tiên thắp sáng ngọn lửa hiếu học, tôn vinh đạo học và trí thức, khẳng định nước Đại Việt không chỉ mạnh về gươm đao mà còn giàu về văn hiến lâu đời.
Bên cạnh một sự nghiệp văn trị lẫy lừng, Lý Nhật Tôn cũng là một võ tướng dũng mãnh nơi trận mạc. Ông đã trực tiếp thân chinh cầm quân ra trận, dẹp tan các cuộc quấy nhiễu biên giới phía Bắc của nhà Tống và viễn chinh phương Nam bảo vệ cõi bờ. Chính trong cuộc thân chinh năm 1069, khi giao quyền nhiếp chính hậu phương cho Nguyên phi Ỷ Lan và Thái sư Lý Đạo Thành, ông đã tạo nên một thế kiềng ba chân vững chắc, giúp giang sơn trong cõi vững vàng, bờ cõi mở rộng.
Khi ông băng hà vào năm 1072, niềm tiếc thương vỡ òa khắp cả kinh thành Thăng Long và vạn dân bách tính. Hơn chín trăm năm đã trôi qua, triều đại nhà Lý nay chỉ còn là những ký ức rêu phong bên những thềm đá cổ, nhưng danh thơm, những di sản và tấm lòng nhân ái của Hoàng đế Lý Thánh Tông Lý Nhật Tôn thì vẫn mãi trường tồn cùng sông núi. Ông chính là biểu tượng rực rỡ cho trí tuệ nước Việt: luôn lấy dân làm gốc để trị quốc, lấy văn hóa để dựng xây đất nước và lấy lòng quả cảm để giữ vững chủ quyền, xứng đáng để muôn đời hậu thế nghiêng mình kính cẩn biết ơn.



