Lý Thường Kiệt
là một nhà quân sự, chính trị kiệt xuất thời Lý và là một trong 14 vị anh hùng dân tộc tiêu biểu trong lịch sử Việt Nam

1. Thân thế và danh tính
Tên thật: Vốn họ Ngô, tên thật là Ngô Tuấn, tự là Thường Kiệt. Ông là thế hệ con cháu của Ngô Quyền.
Quốc tính: Do lập công lớn, ông được vua ban quốc tính (mang họ nhà vua) nên đổi thành Lý Thường Kiệt.
Quê quán: Làng An Xá, huyện Quảng Đức, cơ sở thuộc kinh thành Thăng Long (nay thuộc Hà Nội).
Hoạn quan: Bản phả hệ ghi nhận ông là một hoạn quan (thái giám) đặc biệt, một lòng tận tụy vì giang sơn và phục vụ qua 3 đời vua: Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông và Lý Nhân Tông. [1, 2, 3, 4, 5, 6, 7]
2. Sự nghiệp quân sự lẫy lừng
Bình định phía Nam (1069): Ông làm tướng tiên phong cùng vua Lý Thánh Tông nam chinh đánh Chiêm Thành, bắt sống vua Chiêm là Chế Củ, giúp ổn định vùng biên giới phía Nam. [1, 2]
Chiến lược "Tiên phát chế nhân" (1075 - 1076): Phát hiện nhà Tống chuẩn bị binh lực xâm lược Đại Việt, ông chủ động đem quân sang đánh thẳng vào các căn cứ hậu cần của Tống tại Khâm châu, Liêm châu và Ung châu (Quảng Tây, Trung Quốc). Chiến dịch táo bạo này làm tê liệt hoàn toàn kế hoạch tấn công ban đầu của địch. [1, 2, 3]
Phòng tuyến sông Như Nguyệt (1077): Khi quân Tống tràn sang do Quách Quỳ chỉ huy, Lý Thường Kiệt đã thiết lập phòng tuyến vững chắc tại sông Như Nguyệt (sông Cầu ngày nay). Ông chặn đứng và đánh tan rã quân địch, buộc nhà Tống phải chấp nhận giảng hòa và rút lui. [1, 2, 3, 4]
3. Tác giả bản Tuyên ngôn Độc lập đầu tiên
Trong giai đoạn cam go nhất của trận chiến sông Như Nguyệt, để cổ vũ tinh thần binh sĩ và răn đe quân địch, Lý Thường Kiệt được cho là đã sáng tác (hoặc sử dụng) bài thơ thần "Nam quốc sơn hà". Lời thơ đanh thép khẳng định chủ quyền của nước Nam và lời cảnh báo quân xâm lược sẽ chuốc lấy bại vong, được coi là bản Tuyên ngôn Độc lập đầu tiên của Việt Nam. [1, 2]
4. Cuối đời và di sản
Sau những chiến công hiển hách, ông được phong tước Việt Quốc Công (đứng đầu hàng đại thần).
Ông còn có công lớn trong 19 năm làm Tổng trấn Thanh Hóa, giúp phát triển kinh tế, văn hóa và củng cố vùng biên ải vững chắc.
Năm 1105, ông qua đời ở tuổi 86. Để vinh danh ông, đền thờ Lý Thường Kiệt được lập ở nhiều nơi và tên ông được đặt cho nhiều đường phố, trường học lớn trên khắp cả nước



