Lý Thường Kiệt và “Nam Quốc Sơn Hà”:
Lý Thường Kiệt và “Nam Quốc Sơn Hà”:
- Tên thật là Ngô Tuấn, tự là Thường Kiệt, về sau được ban họ vua nên đượcgọi là Lý Thường Kiệt, ông sinh năm 1019 và mất năm 1105.
- Ông phục vụ qua ba đời vua Lý (Thái Tông, Thánh Tông và Nhân Tông), là danh tướng kiệt xuất, giữ nhiều chức vụ quan trọng trong triều đình.
- Là chỉ huy tài ba của cuộc kháng chiến chống Tống xâm lược (1075-1077), ông đã thực hiện chiến lược “tiên phát chế nhân” (đánh trước để chế ngự kẻđịch) đem quân sang đất Tống để phá thế chuẩn bị xâm lược, sau đó rút về xâydựng phòng tuyến sông Như Nguyệt chặn đứng quân thù. “Nam Quốc Sơn Hà” ra đời trong hoàn cảnh quân Tống tràn sang xâmlược nước ta ở giai đoạn ác liệt nhất tại phòng tuyến sông Như Nguyệt.Tương truyền rằng, Lý Thường Kiệt đã cho người vào đền Trương Hống, Trương Hát ngâm bài thơ này giữa đêm khuya, nhất là cổ vũ cho nhuệ khívà tinh thần chiến đấu của quân sĩ ta, nhì là làm khiếp đảm, lung lay ý chíxâm lược của quân thù. Bài thơ tuy ngắn gọn nhưng lại chứa đựng ý chí, sức mạnh tinh thần chống quân thù. Khẳng định chủ quyền, toàn vẹn lãnhthổ và độc lập dân tộc; đất nước phương Nam đã có vua Nam ở, không chỉ là thực tế lịch sử mà còn là chân lý được vạch ra, ghi chép rõ ràng bởi “ýtrời”-một thực thể tâm linh tối cao, quyền lực, vậy nên Đại Việt là đất nướcdanh chính ngôn thuận, ngang hàng với các triều đại phương Bắc, khôngphải là chư hầu, thuộc địa. Chính vì chủ quyền tuyệt đối đó, ở hai câu cuốibài thơ là lời lên án hành vi trái đạo lý, là cảnh báo đanh thép và là lời khẳng định quyết tâm bảo vệ đất nước với kẻ thù xâm lược, rằng những kẻlàm trái lẽ trời, xâm phạm bờ cõi phi nghĩa nhất định phải chuốc lấy thảmbại. Đây được xem là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước ta, khôngchỉ là một bài thơ ngắn mà còn là tiếng nói chủ quyền quốc gia, thể hiện tưtưởng chính trị tiến bộ, tinh thần dân tộc mạnh mẽ và ý chí quyết thắng củaĐại Việt thời trung đại


