Lý Trung Chánh - Cả gia đình làm Cách mạng
Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, ở Việt Nam đã hình thành các tổ chức yêu nước với nhiều màu sắc khác nhau: phong trào Thiên Địa hội của cụ Nguyễn An Ninh, phong trào Đông Du của cụ Phan Bội Châu, phong trào Duy Tân của cụ Phan Chu Trinh... Nhân dân Tam Bình đã tích cực hưởng ứng các phong trào yêu nước đó. Khi Đảng Cộng sản được thành lập, thì nhân dân Tam Bình một lòng theo Đảng. Có những gia đình, cả nhà đều tham gia cách mạng, trong đó có gia đình ông Lý Trung Chánh.

LÝ TRUNG CHÁNH
CẢ GIA ĐÌNH LÀM CÁCH MẠNG
Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, ở Việt Nam đã hình thành các tổ chức yêu nước với nhiều màu sắc khác nhau: phong trào Thiên Địa hội của cụ Nguyễn An Ninh, phong trào Đông Du của cụ Phan Bội Châu, phong trào Duy Tân của cụ Phan Chu Trinh... Nhân dân Tam Bình đã tích cực hưởng ứng các phong trào yêu nước đó. Khi Đảng Cộng sản được thành lập, thì nhân dân Tam Bình một lòng theo Đảng. Có những gia đình, cả nhà đều tham gia cách mạng, trong đó có gia đình ông Lý Trung Chánh.
Ông Lý Trung Chánh, tên thường dùng Thợ Chánh, tên khi bị bắt ở tù là Nguyễn Văn Quý. Ông sinh năm 1868 tại xã Tân Xuân, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Cha mẹ mất sớm, ông được chị gái nuôi dưỡng. Năm 15 tuổi (1883), ông học nghê thợ bạc, năm 20 tuổi (1888) học thành nghề, đi làm kiếm sống tại huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. Tại đây ông lập gia đình với bà Võ Thị Nhiều, quê xã Mỹ Thạnh Trung (nay là xã Tường Lộc, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long). Từ đó huyện Tam Bình trở thành quê hương thứ hai của ông. Ông là thợ giỏi, làm ăn ngày càng khấm khá. Những năm sau trở thành tiểu chủ, có một tiệm vàng tại thị trấn Tam Bình do ông và các con trai quản lý. Cách thị trấn Tam Bình khoảng hai cây số, ông bà có hai héc-ta ruộng vườn do bà và các con gái canh tác.
Sinh ra và lớn lên dưới thời thuộc Pháp, ông đã chứng kiến bao cảnh đau thương tang tóc do thực dân Pháp gây ra cho đất nước, đồng bào. Và khi trưởng thành, ông được sống nơi quê hương Tam Bình, một trong những chiếc nôi cách mạng của tỉnh Vĩnh Long, nên ông sớm nung nấu lòng yêu nước, chí căm thù giặc. Tính ông cương trực, phóng khoáng, thương người nghèo, ghét bọn tham quan ô lại và bộn cường hào ức hiếp nhân dân. Ông kết bạn rất thân với những người cùng chí hướng trong phong trào Đông Du lúc bấy giờ như ông Nguyễn Ngươn Hanh (Xã Trinh), xã Vĩnh Xuân, huyện Cầu Kè, tỉnh Cần Thơ, nay là huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long; ông Trần Phước Định (Hương bộ Định) ở xã Tường Lộc, huyện Tam Bình là những người tích cực hưởng ứng phong trào Đông Du của cụ Phan Bội Châu vào những năm đầu thế kỷ XX. Khi cụ Phan Bội Châu vận động phong trào Đông Du, ông cùng các bạn ông tích cực tham gia phong trào này. Ông đã tích cực đóng tiền vào quỹ mua vũ khí giúp Hội Duy Tân do cụ Phan Bội Châu sáng lập để đánh Pháp giành độc lập cho dân tộc. Đồng thời ông cho người con trai lớn là Lý Văn Huệ, tức Lý Phùng Xuân sang Nhật du học theo chủ trương Đông Du của cụ Phan Bội Châu. Do những hoạt động yêu nước chống Pháp, ông bị thực dân Pháp bắt, kết án hai năm tù giam, ba năm biệt Xứ. Ra tù, ông bị đưa đi quản thúc tại huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng. Ở đây ông vẫn liên lạc giúp đỡ những người hoạt động cách mạng. Hết hạn quản thúc, ông trở về Tam Bình, tiếp tục tham gia các phong trào chống Pháp ở Tam Bình.
Năm 1930, ông được các đồng chí Nguyễn Văn Nhung, Bí thư chi bộ An Nam Cộng sản Đảng (tháng 2-1931 là Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Long), đồng chí Nguyễn Văn Thiệt, Bí thư chi bộ Ngã tư Long Hồ tuyên truyền giác ngộ chủ nghĩa cộng sản. Ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản, ngay từ năm 1930. Khi trở thành đảng viênĐảng Cộng sản ông không những tích cực hoạt động mà còn vận động cả gia đình tham gia, gồm các con trai, một con gái và hai con rể đều tích cực tham gia phong trào cách mạng tại địa phương: tuyên truyền tổ chức, vận động quần chúng, rải truyền đơn, treo băng cờ, dán biểu ngữ và tham gia các cuộc mít tinh, biểu tình do Đảng Cộng sản tổ chức.
Vào tháng 7 năm 1930, ông Nguyễn Văn Nhung, lúc đó là Bí thư huyện ủy Tam Bình tổ chức một cuộc mít tinh lớn tại gò Cỏ Ống, hàng trăm người đã dự cuộc mít tinh này, trong đó có cả những người trong gia đình ông Lý Trung Chánh. Mít tinh xong, hàng trăm người kéo biểu tình khắp xã Loan Tân để gây ảnh hưởng trong đồng bào Khmer. Đoàn người biểu tình đến đâu đều hô vang khẩu hiệu: "Chống sưu cao, thuế nặng, chống khủng bố trắng...". Đoàn biểu tình đã gây tiếng vang lớn. Sau cuộc biểu tình tại Loan Tân, địch tăng cường khủng bố, bắt bớ những đảng viên cộng sản và quần chúng tham gia phong trào cách mạng. Ông và con gái út là Lý Thị Én bị sa vào tay giặc. Các con trai ông là Lý Văn Hiếu, Lý Văn Thảo, Lý Văn Mẫn, hai con rể là Võ Tuấn Đức, Võ Văn Lư cũng lần lượt bị bắt trong năm 1930, đầu năm 1931. Bị bắt lần này, ông đã bị địch tra tấn rất dã man, nhưng ông vẫn giữ vững khí tiết của người cộng sản, thà chết chứ không khuất phục. Bọn địch đã tức tối gọi ông là "ông già cộng sản". Địch đưa ông ra tòa, kết án năm năm khổ sai và năm năm biệt xứ, rồi đày ra Côn Đảo.
Năm 1935, hết hạn tù, ông được tha về, nhưng bị địch quản thúc tại thị trấn Cà Mau, tỉnh Bạc Liêu. Tại đây ông bắt liên lạc với tổ chức Đảng để tiếp tục hoạt động cách mạng. Năm 1936, Mặt trận Bình dân Pháp thắng lợi, trong nước phong trào cách mạng phát triển, ông về Tam Bình, tích cực tham gia phong trào cách mạng tại địa phương. Lúc này đồng chí Tạ Uyên vượt ngục từ Côn Đảo về xây dựng cơ sở Đảng tại tỉnh Vĩnh Long. Đồng chí đã sớm bắt liên lạc với các con trai và con rể ông, được gia đình ông hết lòng che chở, nuôi dưỡng. Các đồng chí hoạt động bí mật cũng thường xuyên tới đây liên lạc, hội họp, trong đó có đồng chí Phan Văn Bảy (Bảy Cùi), Liên tỉnh ủy viên Tỉnh ủy Cần Thơ, Quảng Trọng Hoàng, Bí thư Liên tỉnh ủy Cần Thơ... được gia đình ông nuôi dưỡng bảo vệ an toàn.
Tháng 9-1939, địch khủng bố, bắt một số cựu chính trị phạm, lãnh đạo phong trào Mặt trận Dân chủ ở địa phương, trong đó có ông Lý Trung Chánh, con trai ông: Lý Văn Thảo, và con rể: Võ Tuấn Đức. Nhưng thời gian sau thấy ông tuổi đã cao, chúng thả ông ra. Còn con trai và con rể ông, chúng kết án tù đày ra Côn Đảo. Đầu năm 1940, phong trào cách mạng trong nước, trong tỉnh đã chuyển sang một bước mới: thi hành Nghị quyết Trung ương Đảng, thực hiện chiến lược Mặt trận dân tộc phản đế, chống đế quốc, chống chiến tranh, giành độc lập cho tổ quốc. Phong trào sôi nổi khắp nơi, từ thành thị đến nông thôn, từ trong trại lính đến ngoài quần chúng nhân dân.
Năm 1940, ông ngoài 70 tuổi nhưng còn tráng kiện, đã tích cực tham gia mọi hoạt động chuẩn bị cho cuộc bạo động khởi nghĩa cướp chính quyền theo chủ trướng khởi nghĩa của Xứ ủy Nam Kỳ lúc bấy giờ. Ngày khởi nghĩa đã đến 11 giờ đêm 22 tháng 11 năm 1940, các cánh quân bắt đầu tập trung:
- Cánh thứ nhất: là lực lượng chính, đông nhất, xuất phát từ nhà ông Lý Trung Chánh. Các đồng chí lãnh đạo trong quận ủy Tam Bình: Đồng chí Nguyễn Hiết Tự (Bí
đảng viên, lực lượng nòng cốt trai trẻ trai và chấu nội ông là Lý Văn Mã hợp cùng với cánh ở Sa Co, Hòà Bình, Thới Hòà ra do đồng chí Đặng Văn Nhứt, Bí thư chi bộ Tường Lộc lãnh đạo. Cánh này có nhiệm vụ đánh chiếm đồn lính và dinh quận Tam Bình.
- Cánh thứ hai: gồm lực lượng dưới xóm Rạch Hàn xã
Mỹ Thạnh Trung và trên kinh xáng xuống đi bọc lộ sau, chia một lực lượng đốt nhà việc Mỹ Thạnh Trung, một lực lượng phá hoại mang cưa cá mập, búa rìu, và nhiều thùng dầu hỏa đốt phá cầu Cái Sơn, Ba Kè, cưa những cây sao lớn hai bên đường để cản xe tiếp viện của địch từ thị xã Vĩnh Long xuống. Phân công cho con gái thứ sáu của ông (Lý Thị Sảnh) vận động chủ xe đò (Ba Sua) đưa xe ra khỏi thị trấn Tam Bình bằng cách bảo chủ xe (nói dối) là đi thăm mẹ chồng đang hấp hối để đề phòng địch tịch thu xe chở binh tiếp viện.
- Cánh thứ ba: Phân công một lực lượng nhỏ đánh chiếm đồn Trà Luộc, thuộc huyện Trà Ôn, giáp ranh huyện Tam Bình. Đối với mục tiêu chủ yếu của cuộc khởi nghĩa là dinh quận và trại lính bảo vệ dinh quận, Ban lãnh đạo khởi nghĩa giao cho đồng chí Phan Văn Đáng (Hai Văn) chỉ huy trực tiếp. Nhận nhiệm vụ, đồng chí Phan Văn Đáng liền xuống xã Tường Lộc để phổ biến nhiệm vụ và thống nhất phương án hành động với đồng chí Đặng Văn Nhứt, Bí thư xã Tường Lộc. Đồng chí Phan Văn Đáng và đồng chí Đặng Văn Nhứt đến nhà ông Lý Trung Chánh, điểm tập kết để tổ chức huy động lực lượng. Khi có mặt đông đủ, ông Lý Trung Chánh thấy đồng chí Phan Văn Đáng tay không, ông liền hỏi đồng chí Phan Văn Đáng "Mày không có gì cầm tay à?". Rồi ông vào nhà sau xách ra con dao phay lớn đưa cho đồng chí Phan Văn Đáng. "Con dao" từ người tiền bối cách mạng đã cổ vũ niềm tin, lòng tự hào cho người chỉ huy trận đánh quyết định sắp tới.
Đúng 12 giờ đêm 22 rạng 23-11-1940, đồng chí Phan Văn Đáng ra lệnh tấn công, tiếng trống mõ cùng với tiếng thét xung phong vang lừng làm chấn động cả một vùng quận lỵ Tam Bình, ba cánh quân đều tấn công vào mục tiêu đã định. Cuộc khởi nghĩa mở đầu bằng cuộc đánh chiếm đồn binh huyện Tam Bình giành được thắng lợi. Ta lấy được hai súng, chém trọng thương tên đồn trưởng. Nhưng đánh chiếm dinh quận ta không thực hiện được, địch phản công quyết liệt. Đồng chí Nhứt Bí thư chi bộ xã Tường Lộc trúng đạn ở bụng, bị trọng thương. Ta được lệnh rút lui để bảo toàn lực lượng. Các cánh quân khác đã hoàn thành nhiệm vụ, đánh chiếm được đồn Trà Luộc, đốt cháy hết sổ sách trong nhà việc Mỹ Thạnh Trung, đốt cầu Cái Sơn, Ba Kè, cưa cây cản đường xe tiếp viện của địch từ Vĩnh Long xuống, đưa được xe đò ra khỏi thị trấn Tam Bình...
Sau cuộc khởi nghĩa, địch đã điên cuồng khủng bố trả thù, chúng điều động một đại đội lính người Khmer về Tam Bình kết hợp với bọn lính làng, bắn giết nhân dân. Bọn này vênh vang tuyên bố "Tìm diệt cộng sản không còn con đỏ" và "Thà giết lầm còn hơn bỏ sót"! Vào lúc 10 giờ sáng ngày 24-11-1940, bọn lính đến vây nhà bắt ông Lý Trung Chánh và cháu nội ông là Lý Thị Quyên, ít ngày sau chúng bắt con trai ông là Lý Văn Mẫn, Lý Phùng Xuân.
Địch đưa ông ra Tòà đại hình Sài Gòn xét xử, kết án tù chung thân khổ sai rồi đày ra Côn Đảo lần hai, năm đó ông 72 tuổi. Tuổi cao, không chịu nổi chế độ vô cùng khắc nghiệt của lao tù, ông đã mất tại Côn Đảo vào ngày 9 tháng 3 năm 1942, lúc đó ông 74 tuổi. Sau khi ông mất, người con trai thứ 10 của ông là Lý Văn Mẫn cũng đang bị đày khổ sai tại sở đá Côn Đảo, đã làm một bia đá đến đặt tại mộ ông ở Hàng Dương. Lúc này con trai cả của ông là Lý Phùng Xuân và con rể thứ sáu của ông là Võ Tuấn Đức cũng đang bị đày ở Côn Đảo, nhưng bị giam cấm cố ở banh III không ra được. Điều đặc biệt đáng ghi nhận trong cuộc đời hoạt động cách mạng của ông Lý Trung Chánh là ông đã tuyên truyền giác ngộ và lôi cuốn toàn bộ những người thân trong gia đình tham gia cách mạng.
Trong thời kỳ 1930-1931 và Nam Kỳ khởi nghĩa năm 1940, trong gia đình ông trước sau có tám người bị bắt vì tham gia hoạt động cách mạng, bao gồm bản thân ông, bốn con trai, một con gái, hai con rể bị địch kết án và bị tù đày, trong đó có sáu người bị đày ra Côn Đảo. Vợ ông là bà Võ Thị Nhiều, một phụ nữ cùng chí hướng với ông, không những hết lòng giúp đỡ chồng con hoạt động cách mạng mà còn nuôi chứa, bảo vệ cán bộ cách mạng. Trong những năm 1930-1935, chồng và các con trai bị địch bắt giam cầm, bà cùng hai con gái đảm đang mọi việc trong gia đình, tích cực nuôi chứa bảo vệ cán bộ cách mạng, tích cực thực hiện những việc Đảng giao: in, rải truyền đơn. Đánh giá về bà, ông Nguyễn Văn Nhung, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Long năm 1931 đã viết trong hồi ký của mình: "Đây là một bà mẹ rất đáng quý trọng, rất xứng đáng được Đảng tuyên dương" Bà bị bệnh mất năm 1938. Ghi nhận những công lao to lớn của Lý Trung Chánh, Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, chính quyền cách mạng đã lấy tên ông đặt tên cho một con đường tại thị trấn Tam Bình: đường Lý Trung Chánh (từ chợ Tam Bình thẳng vô xóm Rạch Hàn, trước nhà ông). Cả gia đình có 11 người tham gia cách mạng.
Cuộc đời hoạt động cách mạng của ông Lý Trung Chánh rất sôi nổi và rất vẻ vang, ông đã giữ trọn lời thề của một người đảng viên khi gia nhập Đảng Cộng sản năm 1930: phấn đấu đến hơi thở cuối cùng cho mục tiêu của Đảng, cho quyền lợi dân tộc, Tổ quốc và của nhân dân.
Tham khảo “NHỮNG NGƯỜI CON TRUNG HIẾU”


