Lý tưởng thanh xuân và khát vọng hòa bình
Trong những ngày hành quân, tham gia chiến đấu, chứng kiến sự tàn khốc của chiến tranh, tội ác của kẻ thù và khí chất anh hùng của lớp lớp thanh niên nơi chiến trận, những ước mơ cháy bỏng của tuổi thanh xuân cùng nỗi nhớ nhà, quê hương, bè bạn da diết... được liệt sĩ Nguyễn Trọng Ấn (sinh năm 1950), trú tại xóm Hoa Đông, xã Hoa Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An ghi lại trong 48 trang nhật ký của mình. Nhật ký này hiện đang được lưu giữ tại trường Đại học kỹ thuật Texas (Mỹ). Như một cơ duyên, Hội hỗ trợ gia đình liệt sĩ Việt Nam đã tìm kiếm, kết nối và trao lại cho gia đình thông qua Nhóm thiện nguyện tìm mộ liệt sĩ và hỗ trợ di dời hài cốt liệt sĩ về quê hương Nghệ An và Hà Tĩnh.
Liệt sĩ Nguyễn Trọng Ấn là con trai duy nhất trong một gia đình có 5 chị em. Tháng 4/1968, kẻ địch điên cuồng chống phá, 18 tuổi, anh tạm gác lại bao hoài bão của tuổi trẻ, xung phong lên đường nhập ngũ, cầm súng ra chiến trường chống Mỹ khi đang học dở lớp 9 (bậc trung học phổ thông hệ 2 năm). Những ngày đầu nhập ngũ được người lính trẻ ghi chép lại, đề ngày 12/4/1968: “Bài lượng giác còn chưa xong… buồn ngủ quá, ta vừa thiu thiu ngủ. Có lẽ khoảng 12h đêm… Cánh cửa kẹt một tiếng… cầm tờ giấy lệnh điều nghĩa vụ quân sự với chữ ký Nguyễn Công Chân, trong người có một cảm giác dễ thường từ trước đến nay chưa bao giờ có. Một đêm, một đêm nhớ mãi…”.
Anh ghi lại cảm xúc trên đường hành quân “ngày lại qua ngày, càng đi đường càng dài mãi. Vực thẳm, sông sâu, đoàn quân vượt qua bao nhiêu rừng, bao nhiêu suối. Qua đất Nghệ An, cảnh làng xóm vắng dần, vắng dần và mất hẳn. Ta đi trong rừng sâu, đi mãi. Đã đến lúc khao khát phóng tầm mắt ra xa, nhìn bầu trời trong đẹp… Những khu rừng tĩnh mịch làm sao... Đường mới mở, tiếng bom thỉnh thoảng lại nổ từng tràng dài xé tan màn đêm...”. Những trận đánh, những lần đối mặt với sinh tử khi quả đạn pháo rơi cách 50cm, lần bị thương hay cái chết dữ dội xảy ra với đồng đội... tất cả đều được anh ghi vào nhật ký, như minh chứng rõ ràng nhất của sự khốc liệt và những hiểm nguy trong chiến tranh mà mỗi người lính phải đối mặt và vượt qua.
Khó khăn, gian khổ là vậy, song người lính trẻ vẫn luôn tự hào, kiêu hãnh của thế hệ thanh niên được đứng trong hàng ngũ đoàn quân ra trận: “Một trung đội một xe. Ngồi chật quá, mưa rét quá nhưng ta vẫn cảm thấy ấm lòng khi xe qua bệnh viện, qua làng xóm và cả đoàn quân cùng hát… Nhân dân ra xem, ta hát càng to. Chắc họ thích lắm khi thấy đoàn xe chở đoàn lính miền Bắc vào Nam. Tuổi thanh niên thấy cảnh này ai mà không thèm muốn…”.
Trong những ngày chiến đấu khốc liệt, ước mơ và khát khao về ngày hòa bình càng trở nên cháy bỏng hơn bao giờ hết, được anh trải lòng trong cuốn nhật ký. Đó là lần đơn vị đóng quân ở nơi cảnh sắc thiên nhiên “không thể chê được”, anh ước ao có thể dừng lại ở đây để chơi trăng nhưng rồi lại dặn lòng “hãy để đến ngày hòa bình” và đã thốt lên “ta muốn sống tự do, hoà bình, hạnh phúc bên cha mẹ già, chị và em của ta…” trong một trang viết khác.
Trong khốc liệt chiến tranh ấy, nỗi nhớ nhà, nhớ mẹ cha vẫn luôn thường trực: “Nhớ mãi ngày hôm nay, khu rừng Quảng Trị, nhớ nhà da diết… ở quê hương mẹ kính yêu đang làm gì nhỉ? Đang làm cỏ ngoài vườn hay đi cấy về? Người cha kính mến hiền từ đã đi làm đồng về chưa. Hay đang nằm nghỉ ở nhà ngoài? Còn em ta có lẽ đang nấu cơm, cơm đang sôi…”. Đó cũng là trang nhật ký cuối cùng, không ghi ngày tháng của liệt sĩ Nguyễn Trọng Ấn. Ngày 16/8/1970, người lính trẻ đã anh dũng ngã xuống, nằm lại chiến trường khi vừa tròn 20 tuổi trong một trận đánh hết sức ác liệt tại Khe Sanh (Quảng Trị) mang theo nỗi nhớ quê hương, nhớ mẹ cha và ước mong về ngày hòa bình…
Chiến tranh đã lùi xa gần nửa thế kỷ, dù chỉ là bản in song những trang nhật ký của liệt sĩ Nguyễn Quang Số, liệt sĩ Nguyễn Trọng Ấn là di vật vô giá mang lại sự an ủi, động viên cho gia đình, người thân. Những trang nhật ký là cầu nối tinh thần, giúp xoa dịu nỗi đau mất mát và gìn giữ ký ức về người con, người anh, người cha đã khuất… của thân nhân các liệt sĩ. Đặc biệt, những trang nhật ký còn là chứng nhân của một thời kỳ chiến tranh khốc liệt, như ngọn lửa truyền cảm hứng, nhắc nhở thế hệ mai sau luôn biết trân trọng giá trị của hòa bình và không quên những đau thương, mất mát, sự hy sinh cao đẹp của những người lính Bộ đội Cụ Hồ đã ngã xuống cho đất nước độc lập, tự do, hạnh phúc hôm nay…



