LÝ VĂN THÍM – NGƯỜI CHIẾN SĨ BÁM RỪNG, BÁM BẢN GIỮ NGỌN LỬA CÁCH MẠNG
Sinh năm 1925, người dân tộc Nùng ở Lạng Sơn, Lý Văn Thím gia nhập Giải phóng quân từ tháng 2-1945. Trong gần một thập kỷ chiến đấu, ông đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ từ bộ binh, trinh sát, liên lạc đến vận động quần chúng. Ông từng chiến đấu liên tục 8 giờ bảo vệ trận địa ở Lạng Sơn, xung phong phá ba lớp hàng rào trong trận đồn Na Y và có 9 tháng bám rừng, bám bản, gây dựng cơ sở cách mạng tại 7 bản. Ngày 31-8-1955, Lý Văn Thím được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Có những chiến công được ghi dấu bằng tiếng súng giữa trận địa. Nhưng cũng có những chiến công được làm nên trong lặng lẽ, bằng những tháng ngày đói cơm, nằm rừng, đi trong đêm tối và kiên trì gây dựng lòng tin của nhân dân.
Cuộc đời Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Lý Văn Thím là sự kết hợp của cả hai.
Ông sinh năm 1925, là người dân tộc Nùng, quê ở xã Nam Sơn, huyện Thất Khê, tỉnh Lạng Sơn. Tháng 2-1945, khi mới khoảng 20 tuổi, Lý Văn Thím đã xung phong gia nhập Giải phóng quân. Ông tham gia đánh phỉ ở Hang Cấu, đánh quân Nhật tại Pò Mã và cùng nhân dân đứng lên giành chính quyền ở thị xã Lạng Sơn.
Có thời gian sức khỏe suy yếu, ông được đơn vị cho về nhà điều trị. Nhưng vừa hồi phục, tháng 6-1946, Lý Văn Thím lại trở về đơn vị.
Con đường của người lính tiếp tục từ đó.
Tháng 12-1946, quân Pháp tiến công thị xã Lạng Sơn. Đối phương huy động tới một tiểu đoàn, có xe tăng, máy bay và pháo binh yểm trợ.
Tiểu đội của Lý Văn Thím nhận nhiệm vụ phòng ngự.
Đạn pháo liên tục dội xuống. Đồng đội bắt đầu thương vong. Tương quan lực lượng quá chênh lệch, nhưng Lý Văn Thím vẫn kiên quyết bám trận địa.
Ông bình tĩnh chờ quân địch đến gần mới nổ súng và ném lựu đạn.
Một giờ…
Rồi nhiều giờ trôi qua.
Suốt tám giờ liên tục, người chiến sĩ trẻ cùng đồng đội chiến đấu giữa vòng vây, tiêu hao lực lượng đối phương và giữ vững vị trí được giao.
Nhưng một trong những trận đánh thể hiện rõ nhất sự gan dạ của Lý Văn Thím diễn ra tại đồn Na Y trên đường số 4 vào đầu năm 1949.
Trước một cứ điểm có nhiều lớp hàng rào và lô cốt bảo vệ, ông xung phong gia nhập đội quân cảm tử.
Khi có lệnh tiến công, Lý Văn Thím lao lên phía trước.
Lớp rào thứ nhất bị phá.
Rồi lớp thứ hai.
Lớp thứ ba cũng bị mở tung.
Không dừng lại, ông tiếp tục xông vào đánh sập lô cốt, chiếm hào giao thông. Phía trước, một hỏa điểm quan trọng của địch vẫn bắn dữ dội, ngăn bước tiến của bộ đội.
Lý Văn Thím áp sát rồi ném lựu đạn vào vị trí đối phương.
Hỏa điểm bị dập tắt.
Cửa tiến công được mở rộng, tạo điều kiện cho đơn vị xung phong tiêu diệt toàn bộ quân địch trong đồn.
Nhưng chiến đấu trực diện chỉ là một phần trong cuộc đời quân ngũ của ông.
Cuối năm 1949, Lý Văn Thím được giao nhiệm vụ liên lạc và trinh sát tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Đây là một chiến trường hoàn toàn khác.
Không còn những cuộc xung phong ào ạt, thử thách lúc này là làm sao để nhân dân tin cán bộ, tin bộ đội.
Ban đầu, nhiều người còn e ngại và xa lánh. Trên các tuyến đường, địch thường xuyên tổ chức phục kích.
Lý Văn Thím không nản lòng.
Ông kiên trì đến với đồng bào, giúp đỡ từng gia đình, tuyên truyền và giải thích để người dân hiểu về cách mạng. Từ sự chân thành ấy, khoảng cách dần được xóa bỏ. Nhân dân bắt đầu che chở cán bộ, cung cấp thông tin và trở thành những cơ sở quan trọng giúp bộ đội nắm tình hình địch.
Có lần, ông nhận một công văn hỏa tốc phải đưa đến đơn vị.
Quãng đường đi mất tới bảy ngày.
Giữa đường lại gặp địch. Lương thực cạn, có lúc không còn cơm ăn.
Nhưng mệnh lệnh phải được chuyển tới nơi.
Lý Văn Thím nhịn đói, tìm đường xuyên qua rừng, tránh các vị trí phục kích và tiếp tục đi.
Cuối cùng, ông đưa được công văn đến nơi trước thời gian quy định.
Từ tháng 12-1952 đến tháng 8-1953, thử thách còn khắc nghiệt hơn khi Lý Văn Thím nhận nhiệm vụ xây dựng cơ sở cách mạng tại một địa bàn trọng điểm.
Chín tháng liên tục, cuộc sống của ông gần như đảo ngược ngày đêm.
Ban ngày, ông ẩn mình trong rừng để tránh những cuộc lùng sục.
Khi bóng tối phủ xuống, ông mới tìm về các bản gặp nhân dân.
Có những ngày không kiếm được gạo, ông phải ăn rau và củ rừng cầm hơi. Địch truy lùng ráo riết, điều kiện hoạt động thiếu thốn, nhưng ông vẫn kiên trì bám địa bàn.
Một bản có cơ sở.
Rồi bản thứ hai…
Cuối cùng, cơ sở cách mạng được gây dựng tại bảy bản.
Đó là một chiến công không có tiếng súng nhưng vô cùng quan trọng. Bởi mỗi người dân tin cách mạng là thêm một chỗ dựa cho cán bộ; mỗi bản làng được gây dựng thành cơ sở lại góp thêm sức mạnh cho cuộc kháng chiến.
Từ năm 1945 đến tháng 7-1954, Lý Văn Thím đã đảm nhiệm nhiều công việc khác nhau: chiến sĩ bộ binh, trinh sát, liên lạc rồi cán bộ tuyên truyền vận động quần chúng. Theo tư liệu, ông tham gia 46 trận chiến đấu, tiêu diệt và làm bị thương 25 tên địch, bắt sống 5 tên, đồng thời xây dựng nhiều cơ sở cách mạng trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Từ một người chiến sĩ trẻ của Giải phóng quân, Lý Văn Thím từng bước trưởng thành và khi được tuyên dương Anh hùng, ông là Đại đội phó bộ binh Trung đoàn 335, đơn vị Quân tình nguyện.
Ông được tặng Huân chương Chiến công hạng Nhất và được bầu là Chiến sĩ thi đua của đơn vị.
Ngày 31-8-1955, Lý Văn Thím được Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tặng Huân chương Quân công hạng Ba và danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Điều đặc biệt trong câu chuyện của Lý Văn Thím không chỉ là lòng dũng cảm trước họng súng quân thù.
Ông có thể xông qua ba lớp hàng rào để đánh đồn, nhưng cũng có thể kiên trì suốt chín tháng nằm rừng, đi bản, từng bước gây dựng lòng tin trong nhân dân.
Bởi có những lúc, người chiến sĩ chiến thắng bằng súng đạn.
Nhưng cũng có những lúc, chiến thắng bắt đầu từ việc làm cho nhân dân tin mình.



