Má Đinh Thị Phái
ái Bình Định có tiếng ngang tàng, mạnh mẽ như tính cách đàn ông. Má sớm giác ngộ cách mạng và tham gia hoạt động trong các phong trào phụ nữ ngay từ những ngày đầu kháng chiến chống Pháp. Năm 1954, theo yêu cầu của tổ chức, vợ chồng má đã gác tình riêng lo nhiệm vụ chung của cách mạng. Sau buổi lưu luyến tiễn đưa chồng và con trai (lúc ấy mới 9 tuổi) ra Bắc tập kết, má gạt dòng nước mắt nhớ nhung ở lại nuôi 3 con nhỏ, tiếp tục hoạt động. Chồng tập kết ra Bắc, gia đình má ở miền Nam thuộc diện “đối tượng của quốc gia. Nhà cửa, tài sản của má bị tịch thu chia cho “cán bộ quốc gia” ở. Má và các con, hai bàn tay trắng không cửa không nhà. Thương hoàn cảnh của gia đình má, người anh chồng thu xếp cho má về ở nhờ. Thấy có người giúp đỡ, kẻ địch bắt ông đi thủ tiêu để răn đe những người khác. Thân má một mình phải đương đầu với bao sóng gió, khó khăn nhưng má không hề nản. Má tự nhủ: phải tìm cách sống, nuôi con và tiếp tục hoạt động. Dân làng biết má cực, má khổ, thương má lắm, nhưng chẳng ai dám gần, dám giúp đỡ. Bữa cơm hàng ngày của gia đình má chỉ có củ mì, của khoai. Khó khăn vậy nhưng má vẫn tiết kiệm từng đồng tiền bát gạo cùng mọi người tham gia mua công phiếu ủng hộ cách mạng. Năm 1961, chồng má - ông Phan Trưng, tình nguyện trở về quê hương chiến đấu. Lúc này má đang bị địch dồn đến trại tập trung. Má khát khao, mong mỏi từng ngày được gặp lại chồng sau bao năm xa cách. Về quê hương hoạt động, ông Phan Trưng, bị địch bắt. Chúng dùng mọi cực hình, tra tấn dã man nhưng ông vẫn một mực: “việc nấy ông làm, nấy ông biết, việc tôi làm chỉ mình tôi biết, hỏi làm chi”. Biết không khuất phục nổi ý chí kiên cường của người chiến sĩ cộng sản, kẻ địch đã giết ông. Được tin chồng hy sinh, căm thù giặc càng chồng chất, má tìm cách trốn trại tập trung. Bất chấp nguy hiểm, suốt hai ngày đêm ròng rã, má dẫn ba con nhỏ cắt rừng, vượt suối tìm đường về quê. Bằng giọng nói thật thà và khẳng khái của người dân miền Trung Nam bộ, má kể lại rành mạch từng chuyện đã xảy ra trong những ngày đấu tranh ác liệt nhất. Má nói: - Lúc này địch càn dữ lắm, lòng người có kẻ ngược người xuôi. Nhưng đường mình mình cứ đi, ai nói ngả nói nghiêng cũng mặc. Có những việc biết có thể chết, chẳng ái dám làm nhưng tôi vẫn hăng. Làm tổ trưởng nhân dân tôi đứng ra vận động bà con đấu tranh chống lập ấp, làm cán bộ nông hội tôi đứng lên chia ruộng cho dân nghèo. Địch xuống hỏi, bà con tốt bụng trả lời “thấy ruộng bỏ, chúng tôi làm chứ chẳng ai chia”. Nếu có kẻ xấu báo, chắc tôi chết chứ địch chẳng để yên! Năm 1967, khi đang tiếp tế cho du kích, má lại bị địch bắt. Chúng trói má lại, treo ngược má lên như con ếch, đánh má chết đi sống lại nhiều lần. Có người nhìn thấy cảnh vậy chịu không nổi phải thốt lên: “đánh vừa thôi, quá tay rớt dây rơi xuống nó chết, mấy đứa nhỏ ai nuôi. Nhà cửa, tài sản của nó mình lấy hết rồi”. Nghe má kể, tôi không thể tưởng tượng nổi, thân má nhỏ nhoi mà sao lại có sức chịu đựng diệu kỳ. Bị địch đánh dã man, mang thương tật đầy người nhưng má không hề sợ. Năm 1969, má lại bị địch bắt cầm tù 18 tháng. Ba lần bị tù, có lần má trốn trại, nó không khép được vào tội gì buộc phải tha. Ra tù trở về má lại lao vào hoạt động. Có người thấy cuộc đời má khổ đã thương: “Làm cách mạng được chi mà cả nhà phải chịu cực”. Má thản nhiên trả lời: “Làm cách mạng cho dân, cho nước, toàn dân hưởng, mình cũng được hưởng chứ không đâu”. Sau bao năm vất vả một mình nuôi con, giờ dây các con của má đã khôn lớn. Nhìn các con, má không thấy tủi vì mình đã làm tròn lời chồng dặn năm xưa: “Đất nước còn giặc tôi phải đi đánh giặc, mình ở nhá ráng chịu khổ nuôi con”. Nhắc tới chuyện ba, má thường khuyên nhủ các con: ba đã đi làm cách mạng, các con cũng phải theo con đường cách mạng của ba. Năm 1966, người con trai thứ hai của má Phan Ngọc Anh, xin má được lên đường đi đánh giặc. Má chẳng nhiều lời chỉ căn dặn anh: đi gắng giữ gìn sức khỏe, công việc ở nhà con khỏi phải lo. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước càng gần thắng lợi càng nhiều gian nan. Năm 1973, giặc Mỹ mở nhiều cuộc tấn công càn quét và dội bom xuống quê hương má, hai con của má anh Phan Thành và chị Phan Thị Tâm cũng tham gia du kích địa phương. Trong một trận chiến đấu ác liệt anh Phan Thành và chị Phan Thị Tâm đã anh dũng hy sinh. Năm 1973, sau khi thực hiện trao trả tù binh, Phan Ngọc Anh được trở về. Đau xót khi thấy hai em mình đã vĩnh viễn ra đi, anh lại tiếp tục cầm súng trả mối thù nhà, nợ nước. Năm 1974 trong một chuyến đi công tác anh bị địch phục kích bắn chết. Chồng ngã xuống, ba con lần lượt hy sinh trên mảnh đất quê hương, bản thân mình mang thương tật trên người. Bốn lần gánh chịu nỗi mất mát đau thương, có nỗi đau nào hơn nỗi đau của má. Nhưng nỗi đau mất nước của cả dân tộc vẫn còn đây, nỗi đau của gia đình má sao tránh khỏi. Chỉ có con đường đứng lên đấu tranh để xóa đi nỗi đau đất nước, gia đình má và mọi gia đình mới hết mọi nỗi đau. Ra Hải Phòng sống đã gần chục năm nay, bên các con, các cháu má thấy khỏe và vui. Các anh ở quận Ngô Quyền ở phường Lạc Viên thường qua lại thăm hỏi, động viên. Đã quen với đất lề quê thói, ra đây ở có lúc mà thấy nhớ quê hương da diết. Nhưng Hải Phòng cũng là quê hương của má bởi nơi đây con, cháu của má đã khôn lớn, trưởng thành. Cuộc đời của má Đinh Thị Phái là một tấm gương anh hùng, là niềm tự hào của quê hương đất nước. Má mãi mãi là tấm gương sáng cho thế hệ trẻ noi theo.



