MÁ NĂM VẠN NGƯỜI MẸ NAM BỘ TRỌN ĐỜI THEO ĐẢNG
Má Năm Vạn là người phụ nữ nông dân giàu lòng yêu nước tại vùng đất Sen Hồng. Trong thời kỳ kháng chiến, má tích cực tham gia hỗ trợ phong trào cách mạng, nuôi giấu cán bộ, tiếp tế lương thực và bảo vệ cơ sở hoạt động của lực lượng cách mạng. Với sự gan dạ, kín đáo và tấm lòng son sắt với cách mạng, Má Năm Vạn trở thành điểm tựa tin cậy của nhiều cán bộ hoạt động tại địa phương.
Câu chuyện thời hoa lửa
MÁ NĂM VẠN
NGƯỜI MẸ NAM BỘ TRỌN ĐỜI THEO ĐẢNG
Trong ký ức của nhiều thế hệ người con Đồng Tháp, hình ảnh người phụ nữ dáng gầy, chiếc khăn rằn khoác hờ trên vai và ánh mắt luôn lấp lánh sự kiên cường – trìu mến – đã trở thành một biểu tượng không thể phai mờ. Đó là Má Năm Vạn, tên thật Lê Thị Huệ, sinh ngày 31/3/1930 tại xã Hòa An, huyện Cao Lãnh. Từ một cô gái hiền lành của vùng đất Sen hồng, bà đã bước vào con đường cách mạng với tất cả sự tin yêu dành cho quê hương, để rồi dành trọn 75 năm cuộc đời cho lý tưởng giải phóng dân tộc và hạnh phúc của nhân dân.
Sinh ra trong một gia đình trí thức yêu nước, bà sớm được gieo vào lòng tinh thần tự hào dân tộc. Những năm 1940, khi đất nước chìm trong khói lửa, cô gái nhỏ Lê Thị Huệ đang học ở Sài Gòn nhưng phải quay về quê nhà khi chiến sự bùng phát. 14 tuổi, thay vì đến trường như bao bạn bè cùng trang lứa, cô bé Huệ thức khuya dậy sớm phụ mẹ làm bánh, rồi từ công việc mưu sinh ấy, cô bắt đầu gặp gỡ chị em lao động và lắng nghe những câu chuyện về nỗi khổ của người dân dưới ách thực dân.
Năm 1946, ở tuổi 16, bà chính thức trở thành thành viên của Phụ nữ cứu quốc xã Hòa An. Dưới sự dìu dắt của chị Lê Thị Thủy – Đoàn trưởng Phụ nữ cứu quốc tỉnh Sa Đéc – cô gái trẻ ngày càng trưởng thành, mạnh mẽ, dấn thân. Từ nhiệm vụ đơn giản như tuyên truyền, vận động chị em tham gia phong trào, bà nhanh chóng trở thành Tổ trưởng, rồi Đoàn phó, Đoàn trưởng Phụ nữ cứu quốc xã Hòa An.
Những năm tháng kháng chiến chống Pháp, bà đi bộ hàng chục cây số trong vùng địch tạm chiếm, vượt lầy vượt sông, mang theo tài liệu, thư chỉ đạo cho cán bộ cơ sở. Bà từng kể: “Lúc đó chỉ có hai thứ không được rơi xuống nước: súng của bộ đội và tài liệu của phong trào. Vì rơi cái nào cũng mất cách mạng.”
Từ năm 1949 đến 1954, bà lần lượt giữ nhiều chức vụ quan trọng ở huyện Cao Lãnh và tỉnh Sa Đéc. Mỗi cương vị là một thử thách, nhưng cũng là một dấu ấn trong hành trình kiên trung.
Sau Hiệp định Genève 1954, quân dân miền Nam gánh chịu vô vàn khó khăn. Trong tình hình đó, bà được giao nhiệm vụ ở lại hoạt động bí mật. Đêm nào cũng vậy, khi tiếng máy bay còn vẳng trên bầu trời, bà cùng đồng đội lặng lẽ vượt đường đồng, tổ chức họp dân, gây dựng cơ sở cách mạng, giữ lửa cho phong trào.
Đến đầu những năm 1960, bà trở thành Trưởng ban Phụ vận tỉnh Kiến Phong, rồi Hội trưởng Hội Liên hiệp Phụ nữ Giải phóng tỉnh khi tổ chức được thành lập năm 1963. Ở các vùng Hòa An – Tân Thuận Đông – Tân Thuận Tây – những nơi giáp ranh, hiểm nguy bủa vây – bà trực tiếp chỉ đạo phong trào ba mũi giáp công, vận động chị em nuôi quân, giấu cán bộ, đấu tranh chính trị đòi quyền sống cho dân. Đồng đội vẫn kể: “Ở đâu gian khó, ở đó có Má Năm. Mỗi lần nghe tiếng bom, bà chỉ hỏi một câu: Có ai bị thương không?”
Sự gan dạ ấy đưa bà lên cấp Khu 8 năm 1968, rồi đến giai đoạn 1973–1976, bà giữ chức Phó Ban Chấp hành Phụ nữ Khu Trung Nam Bộ, trực tiếp hoạt động tại chiến trường sông nước miền Tây, nơi bom rơi đạn nổ như cơm bữa. Bà đi qua Gò Công, Mỹ Tho, Bến Tre… cất lên tiếng nói của phụ nữ vùng khởi nghĩa, tiếp lửa cho phong trào đấu tranh đòi chính quyền.
Giữa bộn bề công việc, Má Năm Vạn vẫn là người mẹ Nam Bộ đôn hậu, dạy con bằng lời ru và bằng chính tấm gương của mình. Có lẽ đoạn đời khiến ai cũng xuất động nhất khi nhắc đến bà là quyết định gửi tất cả sáu người con nhỏ dại cho bà con lối xóm, để yên tâm hoạt động. Không một người mẹ nào muốn xa những đứa con mình rứt ruột sinh ra. Thế nhưng chiến tranh không cho bà lựa chọn. Bà từng nói một câu khiến cả thế hệ hôm nay phải lắng lòng suy ngẫm:
“Khi đẻ con thì đặt Đảng ở đâu?
Nếu đặt Đảng ở trên đầu thì xin thưa với Đảng để tôi về gửi con.
Còn nếu đặt con ở trên đầu thì xin thưa cho tôi về nuôi con.”
Tự tay trao từng đứa con bé bỏng cho người quen nuôi giùm, bà rời nhà, lặn lội qua những trận càn, những vùng đất khốc liệt nhất. Bà hiểu: “Không giành được độc lập, thì tương lai của chúng nó rồi sẽ ra sao?”. Nỗi nhớ con vẫn luôn ở lại trong tim, nhưng chưa bao giờ làm lung lay ý chí. Sinh sáu người con, và tất cả lớn lên trong khí phách của gia đình cách mạng. Bà hay nói: “Má theo cách mạng, tụi con cũng phải lớn lên bằng tinh thần cách mạng. Má không cho tụi con vàng bạc, chỉ cho con cái nghĩa khí của quê hương.”
Sau này, một trong số những người con bà trở thành những cán bộ, trí thức có cống hiến lớn cho đất nước:
– PGS.TS Lê Quang Minh, nhà khoa học và nhà giáo lớn
– Thượng tá Lê Minh Trung, cán bộ Tuyên giáo
– Kỹ sư Lê Thị Thanh Phương, Phó Giám đốc Sở Xây dựng
– ThS – Kỹ sư Lê Minh Hoan, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Thành công của các con là minh chứng cho sự hy sinh thầm lặng của người mẹ suốt những năm tháng chiến tranh loạn lạc.
Sau 1975, đất nước hòa bình nhưng còn trăm bề thiếu thốn. Má Năm lại tiếp tục gánh vác trọng trách: Chủ tịch Hội LHPN tỉnh Đồng Tháp khóa I, Tỉnh ủy viên, đại biểu Quốc hội khóa VI, rồi Ủy viên Ban Thư ký Trung ương Hội LHPN Việt Nam, Phó Ban Dân vận Tỉnh ủy Đồng Tháp.
Dẫu ở vị trí nào, bà vẫn giữ lối sống giản dị, gần dân, và luôn đau đáu với hai chữ “hạnh phúc”. Điều bà mong nhất, bà từng nói, không phải là chức vụ hay huân chương, mà là “người dân sống an vui, con trẻ được đến trường”. Trong suốt cuộc đời mình, Má Năm Vạn luôn mơ về một quê hương yên bình – nơi tiếng hò Nam Bộ lại vang lên trong buổi chiều lộng gió, nơi những người mẹ không còn phải khăn gói đưa con ra chiến lũy. Với bà, “hai nửa câu hò, hai nửa lời ru” tượng trưng cho hai phần đời người phụ nữ: một nửa dành cho gia đình, một nửa gửi cho Tổ quốc.
Bà được trao tặng Huy hiệu 75 năm tuổi Đảng, Huân chương Độc lập hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Lao động hạng Nhì cùng nhiều phần thưởng cao quý khác—nhưng trên tất cả, chính nhân dân đã trao cho bà danh hiệu thiêng liêng nhất: Má Năm Vạn.
Ngày 13/7/2022, bà rời cõi đời trong sự kính trọng và tiếc thương của đồng bào, đồng chí. Nhưng câu chuyện về cuộc đời bà – người phụ nữ một đời “giữ lửa” cho phong trào phụ nữ Nam Bộ – vẫn sẽ được nhắc nhớ mãi. Hình ảnh Má Năm vẫn sống động trong trái tim người dân. Và hơn hết, tinh thần, ý chí kiên trung của bà đã thấm sâu vào tâm thức thế hệ trẻ hôm nay khi họ đọc và hiểu về cuộc đời một người phụ nữ đã sống trọn vẹn vì cách mạng, vì Tổ quốc và vì nhân dân.
* Bài viết đọc thoại trong video tư liệu
MÁ NĂM VẠN
NGƯỜI PHỤ NỮ PHI THƯỜNG GIỮA ĐỜI THƯỜNG
Người ta vẫn nói chiến tranh là ngọn gió dữ cuốn bay cả làng mạc, xóa nhòa những mái nhà yên ấm và đẩy con người vào những ngã rẽ cay nghiệt. Nhưng chiến tranh cũng chính là nơi làm sáng lên những con người phi thường, những tấm lòng bất khuất. Trong số đó, hình ảnh bà Lê Thị Huệ (Má Năm Vạn) – người phụ nữ Hoà An kiên trung – luôn là biểu tượng đẹp của lòng dũng cảm, của sự hy sinh thầm lặng nhưng vĩ đại. Sinh ra trong thời khói lửa, Má Năm đã chấp nhận gửi lại sau lưng cuộc sống đời thường và cả sáu người con còn thơ dại để dấn thân vào con đường cách mạng đầy hiểm nguy. Không có người mẹ nào muốn rời xa “núm ruột” của mình, nhưng chiến tranh buộc bà phải lựa chọn: hoặc là ở lại nuôi con, hoặc là bước ra trận chiến để gìn giữ tương lai cho chính những đứa trẻ ấy. Bà nói với một niềm tin son sắt: “Khi đẻ con thì đặt Đảng ở đâu? Nếu đặt Đảng ở trên đầu thì xin thưa để tôi về gửi con. Còn nếu đặt con lên đầu thì xin thưa để tôi về nuôi con.” Câu nói ấy không chỉ thể hiện sự kiên định mà còn phác họa tấm lòng đặt Tổ quốc lên trên nỗi đau riêng – một phẩm chất hiếm có của người phụ nữ thời chiến.
Với tố chất thông minh, dịu hiền nhưng vô cùng bản lĩnh, Má Năm nhanh chóng trở thành hạt nhân quan trọng trong phong trào phụ vận. Năm 1961, khi tuổi đời còn rất trẻ, bà được giao trọng trách Trưởng Ban Phụ vận tỉnh Kiến Phong, và chỉ hai năm sau đã trở thành Tỉnh ủy viên – người phụ nữ duy nhất trong Tỉnh ủy lúc bấy giờ, giữa 13 nhân sự trụ cột của phong trào cách mạng. Ở vị trí lãnh đạo, bà mang một phong thái đặc biệt: mềm mại như lụa nhưng vững chắc như thép. Sự chân thành, gần gũi, thẳng thắn của bà đã tạo nên một “quyền lực đẹp” – quyền lực của niềm tin và sự đoàn kết. Dưới sự dẫn dắt của bà, phong trào phụ nữ Kiến Phong lớn mạnh, trở thành lực lượng bền bỉ bám đất, bảo vệ cơ sở và truyền lửa cách mạng giữa những ngày đen tối nhất.
Điều làm người đời nhớ mãi ở Má Năm không chỉ là vai trò lãnh đạo mà còn là tinh thần dũng cảm và nét dí dỏm rất đặc biệt. Giữa những trận bom nổ rung trời, bà vẫn có thể cười đùa, khích lệ chị em bằng những câu nói bông đùa mà gan góc. Với bà, bom đạn có thể làm chao đảo núi rừng nhưng không thể lung lay trái tim người chiến sĩ. Tinh thần ấy được các nhà thơ cất lên thành lời: “Hiên ngang đi vào cõi chết giành sức sống, cao hơn cái chết là những tiếng cười” hay “Mưa bom bão đạn lòng thanh thản, nhạt muối với cơm miệng vẫn cười.” Những tiếng cười ấy không vô tư, mà là tiếng cười của một ý chí bất khuất, của niềm tin mãnh liệt vào ngày đất nước hòa bình.
Khi chiến tranh lùi xa, cuộc sống đời thường mở ra những khoảng lặng mới trong lòng bà. Dù tiếp tục cống hiến trong công tác hội và trong các phong trào địa phương, nhưng niềm hạnh phúc lớn nhất của bà vẫn là được nhìn thấy con cháu quây quần đông đủ. Sau những năm tháng rứt ruột gửi con cho người khác nuôi, những giây phút sum vầy trở thành món quà vô giá mà bà trân trọng hơn bất cứ danh hiệu hay sự tôn vinh nào. Có lẽ chính những năm tháng chia ly khắc nghiệt đã khiến bà càng khao khát được gần gũi gia đình – điều tưởng chừng đơn giản nhưng lại là ước mơ lớn nhất của những người mẹ thời chiến.
Trong cảm nhận của thế hệ trẻ như chúng em, Má Năm không chỉ là một nhân chứng lịch sử, mà còn là một người mẹ phi thường, một người phụ nữ đời thường nhưng có nghị lực, bản lĩnh vượt xa cái bình thường ấy. Bà là tấm gương sáng về sự hy sinh, về tình yêu nước, về việc đặt lợi ích của dân tộc lên trên nỗi đau cá nhân – đúng như câu hát trong “Hai nửa câu hò, hai nửa lời ru”: “Hoà An chiếc nôi cách mạng, ngời sáng những tấm gương phụ nữ kiên trung, bất khuất anh hùng… tình riêng nghĩa cả đôi bề vẹn đôi.” Cuộc đời Má Năm là minh chứng rằng những điều vĩ đại nhất đôi khi được làm nên bởi những con người bình dị nhất, và rằng giữa đời thường vẫn luôn tồn tại những con người phi thường như bà – những người đã âm thầm góp cả cuộc đời mình để đất nước có được hòa bình hôm nay.
Nguồn tư liệu phóng sự:
1. Trích phóng sự Chuyên mục Văn học và Cuộc sống - THĐT Hai nửa câu hò - Hai nửa lời ru
2. Trích phóng sự Má Năm Vạn – Cuộc đời với nửa lời - VTV9
3. Hai nửa câu hò – Hai nửa lời ru; nhạc sĩ: Nguyễn Duy Trung; ca sĩ: Thanh Thủy



