Mã Quỳnh, cuối năm 1979
Lại nhớ ngày ấy sau trận chiến tháng 2/1979, lính ta được trang bị đầy đủ hơn về tăng, võng, gạo sấy, ăng gô và đặc biệt là mũ sắt…, đội mũ sắt trông ai cũng oách xà
Lại nhớ ngày ấy sau trận chiến tháng 2/1979, lính ta được trang bị đầy đủ hơn về tăng, võng, gạo sấy, ăng gô và đặc biệt là mũ sắt…, đội mũ sắt trông ai cũng oách xà lai, , những lần đi lấy gạo từ Mã Quỳnh đến Thông Nông không có gì nguy hiểm nhưng lính ta vẫn đội cho nó oai là chính, qua hai ba chuyến chả được em nào khen với lại mũ nặng đội rất mỏi cổ nên số người đội mũ ít dần theo từng chuyến…
Như thường lệ, đến lịch chúng tôi lại ba lô, mũ sắt về Thông Nông lấy gạo, khi về đến gần đỉnh Mã Quỳnh thì thấy một vườn dây bí ngọn xanh mơn mởn, cùng lúc đó ở lề đường gần vườn bí có một chú người Mông đeo một khẩu súng tự chế, chúng tôi đến chào hỏi và xin chú một ít ngọn bí về ăn, chú gật đầu rồi đi vào vạt rừng gần đó, chờ có thế chúng tôi ào vào hái ngọn bí, loáng một cái đã đủ bữa, đang tìm dây buộc thì một bác gái người Mông mặt đỏ, thái độ bức súc và nói to gay gắt như bảo là sao lại ăn cắp rau của bác, chúng tôi giải thích là đã xin chủ vườn và được đồng ý, đồng thời tả chủ vườn là đàn ông có đeo một khẩu súng tự chế, do bất đồng ngôn ngữ nên cuộc tranh cãi chưa ngã ngũ thì đoàng… một tiếng súng nổ to, chúng tôi liền nói tiếng súng là do người chủ vườn vừa nãy bắn, nghe vậy bà bác thôi không bắt đền nữa, ơn giời vì tiếng súng.
Thoát nạn chúng tôi dẻo chân lên đỉnh đèo lại gặp người dân bán thịt bò, chúng tôi không có tiền những vẫn đến gần xem và ngửi thịt cho đỡ thèm, thấy chú bán thịt nhìn chúng tôi đội mũ say đắm, chúng tôi mở giao dịch 2 mũ sắt đổi lấy 1 đầu + 1 đuôi bò. Bữa chiều hôm đó không khí của A khí thế và vui như Tết.
Mã Quỳnh, cuối năm 1979


