Anh hùng Lực lượng vũ trang

Má Sáu Ngẫu và tấm bản đồ chỉ đường tiến công vào Sài Gòn

Má Sáu Ngẫu và tấm bản đồ chỉ đường tiến công vào Sài Gòn

Lâm Đồng22/04/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tôi chưa được gặp má Sáu Ngẫu, chỉ nhìn thấy qua di ảnh và nghe nhiều người kể chuyện về má. Tôi cũng nhiều lần nhìn ngắm bức ảnh má cùng với hai người con nhỏ, một trai, một gái đang chụm đầu trên tấm bản đồ với chỉ huy trung đoàn 27 vào thời điểm đại quân của ta đang áp sát cửa ngõ phía bắc Sài Gòn cuối tháng 4 năm 1975. Cậu bé trong bức ảnh đó (giờ đã là một người đàn ông ngoài sáu mươi tuổi) đang cùng chúng tôi thực hiện dự án làm sách và phim về má Sáu Ngẫu. “Cậu bé” ấy kể cho chúng tôi nghe rất nhiều những câu chuyện thú vị về người mẹ của mình, một bà má giống như bao bà má khác nhưng lại rất đặc biệt ở vùng cây trái Lái Thiêu của miền đông Nam Bộ. Dưới đây là một vài mẩu chuyện nhỏ được chúng tôi trích ra từ câu chuyện lớn của một đời người do chính con trai má Sáu Ngẫu kể lại.

Sách

Má Sáu được sinh ra trong một gia đình có truyền thống cách mạng ở Bình Dương. Cha là cụ Huỳnh Văn Thà, còn gọi là ông Bộ Chà, mẹ là bà Nguyễn Thị Sim. Hai cụ thân sinh ra má Sáu sống bằng nghề trồng mía nấu đường. Gia đình má thường xuyên là nơi nuôi dưỡng, che giấu cán bộ cách mạng trong hai cuộc kháng chiến từ 1945 đến 1975.

Năm 1948, tròn 18 tuổi cô gái Huỳnh Thị Sáu bắt đầu tham gia cách mạng, được phân công làm giao liên, hoạt động bí mật trong lòng địch.

Những ai từng ở chiến trường miền Nam đều biết rõ tầm quan trọng đặc biệt của giao liên, đặc biệt là tuyến giao liên từ trong lòng địch. Đường dây giao liên có thể coi là mạch máu cho sự sống của cách mạng. Đây là một nhiệm vụ cực kỳ gian khổ, tiềm ẩn muôn vàn nguy hiểm và rủi ro. Việc chọn người làm công tác này được tổ chức xem xét rất kỹ, rất cẩn trọng về mọi phương diện. Không chỉ là giao liên thông suốt đường dây mà còn là nhân tố điệp báo, tình báo. Chiến sĩ giao liên đồng thời là chiến sĩ tình báo. Bởi vậy ngoài tinh thần kiên định, trung thành tuyệt đối với cách mạng, người giao liên phải có những kỹ năng, năng lực ứng phó và sức khỏe dẻo dai bền bỉ.

Má Sáu được tổ chức giao nhiệm vụ giao liên từ khi còn rất trẻ. Và công việc ấy theo má cho đến ngày thắng lợi cuối cùng của cuộc trường kỳ kháng chiến. Suốt 30 năm ấy, má đã đi biết bao dặm đường, bao nhiêu lần đối mặt với cái chết, bao nhiêu lần bị bom đạn kẻ thù vùi dập? Không thể tính hết được. Chỉ có thể khẳng định má đã dốc hết sức mình để làm việc và kết quả là đường dây giao liên do má phụ trách chưa bao giờ bị đứt đoạn, chưa bao giờ có bất kỳ sơ hở nào. Trong chiến tranh giải phóng, việc liên lạc thông tin qua máy điện báo rất hạn chế. Cơ quan lãnh đạo cấp địa phương chỉ có thể nắm tình hình chỉ đạo hoạt động qua sức người. Giao liên luôn phải đối mặt với hệ thống kiểm soát gắt gao của kẻ địch. Ở vùng Lái Thiêu, Thủ Dầu Một, chính quyền Sài Gòn và lực lượng quân sự Mỹ dựng lên nhiều lớp kiểm soát đời sống của người dân. Từ dân vệ đến cảnh sát, từ chốt kiểm soát nhỏ đến kiểm soát lớn. Từ hàng rào thép gai, hàng rào điện tử cho tới những bãi mìn ở vùng đệm. Sự di chuyển của người dân cực kỳ khó khăn. Bản lĩnh của giao liên được thử thách đầu tiên là đối mặt với kẻ địch có hình hài cụ thể, tức là hệ thống kiểm soát của địch ở các chốt. Má Sáu được giao nhiệm vụ đưa báo cáo của tổ chức cách mạng địa phương về cơ quan lãnh đạo đóng ở vùng căn cứ trong các khu rừng già và nhận chỉ đạo bằng văn bản mang về địa phương. Bình thường thực hiện chế độ báo cáo hàng tháng. Đặc biệt có khi báo cáo quý, cũng có khi báo cáo tuần. Yêu cầu đầu tiên và xuyên suốt của nhiệm vụ là an toàn về tài liệu và con người. Má Sáu là cơ sở bí mật, một người dân làm ăn ở địa phương nên vấn đề “giữ mình” hết sức quan trọng. Má thường xuyên đối mặt với kẻ địch và chưa lần nào bị chúng phát hiện ra sơ hở. Khi thì với diện mạo người lao động bình thường, lúc cải trang thành người buôn bán, khi là cô giáo, lúc là người làm công… má Sáu đã vượt qua rất nhiều hiểm nguy bằng khả năng ứng phó khôn khéo của mình.

Thử thách thực sự đối với một giao liên chính là... chặng đường di chuyển. Qua từng thời kỳ, từng mức độ quyết liệt ở chiến trường, căn cứ lãnh đạo của Thủ Dầu Một luôn thay đổi. Khi ở vùng rừng Thuận An Hòa, lúc ở vùng rừng giáp ranh với Bình Long, cũng có khi chuyển tới vùng rừng chiến khu D, có lúc có mặt ngay vùng chiến trường nóng bỏng Tây Ninh. Dù di chuyển đến đâu, chiều dài từ căn cứ đến Lái Thiêu không dưới 50km đường chim bay. Để đến căn cứ, giao liên phải vượt qua vùng trắng thường được gọi là vùng chiến địa, nơi oanh kích tự do bằng máy bay và pháo bắn theo tọa độ của kẻ địch.

Từ năm 1966, khi quân viễn chinh Mỹ trực tiếp tham chiến ở Việt Nam, vùng trắng ven lộ 13 và ven sông Sài Gòn được chia lô kiểm soát bằng pháo, biệt kích và B-52.

Một lần, má Sáu thực hiện nhiệm vụ vào thời điểm cuối mùa mưa.

Má Sáu nhận chỉ thị đưa tài liệu, báo cáo về Tỉnh ủy từ chiều hôm trước với lời dặn “căn cứ tỉnh đã chuyển về căn cứ Long Nguyên, khu rừng Căm Xe. Tài liệu quan trọng, chuyển gấp và tuyệt đối an toàn”. Tài liệu được bọc kỹ trong giấy dầu và hai lần ni lông để chống thấm nước. Má giấu tài liệu trong túi vải quấn quanh người với hai lần áo. Má ăn bữa tối sớm hơn. Vừa ăn vừa tính toán cụ thể lộ trình về căn cứ. Có ba lối đi về rừng Long Nguyên (Bến Cát, Bình Dương). Một là theo đường 13 tới Bông Trang, Nhà Đỏ thuộc huyện Châu Thành rồi rẽ về hướng tây băng qua vùng rừng chồi và trảng cỏ dài khoảng hơn 10 ki lô mét. Hai là men theo sông Sài Gòn vượt qua chốt Nam Bến Cát tới Bến Súc, Thanh An rồi rẽ về hướng đông. Khoảng cách dài chừng 10 ki lô mét. Ba là trực diện cắt rừng theo đường thẳng đến Long Nguyên, đường đi có thể rút ngắn 10 ki lô mét nhưng phải qua nhiều chốt địch nguy hiểm và phải vượt qua nhiều vùng trũng sình lầy rất khó đi. Cuối cùng, má quyết định chọn lối đi theo hướng Thanh An về Long Nguyên. Với lối đi này tuy dài hơn nhưng có thể đi ngay trong đêm. Địa hình từ Lái Thiêu đến Thanh An má nắm chắc trong lòng bàn tay. Vùng đất gò đồi khá cao, có nhiều vườn cây, nhiều rẫy trồng trọt của dân nên tốc độ di chuyển khá nhanh. Nếu không có gì đặc biệt xảy ra, đến Thanh An chỉ mất 6 tiếng đồng hồ. Từ Thanh An vào cứ mất 4 tiếng nữa. Như vậy, nếu xuất phát từ 1 giờ sáng, khoảng chiều đã có thể đến cứ. Má mang theo hai ký gạo nếp, hai ký đường, mấy hộp sữa và hai cây thuốc lá rubi đỏ. Đựng trong cái bòng có dây đeo. Lần nào về má cũng mang theo quà tặng các anh chị trong cứ.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn