Bài viết

MÁ TÁM THANH

Những năm đầu kháng chiến chống Pháp, dân tộc ta có rất nhiều tấm gương sáng ngời đã có công trong sự nghiệp bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước. Một tấm gương là người chị, người mẹ trong kháng chiến luôn tâm huyết, tận tuỵ cho công tác đoàn thể, cống hiến góp hết sức mình vào sự nghiệp bảo vệ tổ quốc là má Nguyễn Thị Thanh (chị Tám Thanh) – nguyên Thành uỷ viên, Uỷ viên Thường vụ Thành uỷ, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh, nguyên Trưởng Ban Dân vận Thành uỷ Thành phố Hồ Chí Minh cho đến ngày nghỉ hưu.

Thanh Hóa30/09/2026Ban Thanh niên Công an tỉnh An Giang (Ban Thanh niên Công an tỉnh An Giang )1 lượt xem0 lượt chia sẻ
MÁ TÁM THANH

Những năm đầu kháng chiến chống Pháp, dân tộc ta có rất nhiều tấm gương sáng ngời đã có công trong sự nghiệp bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước. Một tấm gương là người chị, người mẹ trong kháng chiến luôn tâm huyết, tận tuỵ cho công tác đoàn thể, cống hiến góp hết sức mình vào sự nghiệp bảo vệ tổ quốc là má Nguyễn Thị Thanh (chị Tám Thanh) – nguyên Thành uỷ viên, Uỷ viên Thường vụ Thành uỷ, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh, nguyên Trưởng Ban Dân vận Thành uỷ Thành phố Hồ Chí Minh cho đến ngày nghỉ hưu.

Má là một trong những nữ cán bộ, một đồng chí gần như suốt đời làm công tác phụ nữ. Má tên thật là Nguyễn Thị Uyển, sống tại quê nhà tại làng Tương Mai, ngoại thành Hà Nội (sau này thuộc quận Hai Bà Trưng). Thuở bé, má chưa hiểu nhiều về sự bóc lột, cũng chính mùa hè năm ấy, má cùng một số bè bạn tham gia chuyến nghỉ mát tại Kompong Cham gần trang trại cao su Chúp của Trường Trung học Lycee Síowwath tổ chức. Trong chuyến đi thăm rừng, một cảnh tượng hãi hùng gây xúc động sâu sắc trong tâm hồn non trẻ, không thể quên được là hình ảnh đoàn người già- trẻ, lớn- bé ăn mặc rách rưới, da vàng, người thì ốm tong teo, bụng to chướng lên. Tất cả đều mặc quần đùi để lộ hai ống chân khẳng khiu như que củi khô, bước đi xiêu vẹo. Thấy đoàn khách lạ, họ chìa tay xin cứu giúp qua cơn đói khát, bệnh hoạn. Điều khác lạ hơn hết, câu hỏi lúc ấy trẻ con đồng lứa như má bật hỏi:“Sao ở rừng mà cũng có đông người ăn xin như thế?”

Cô bạn cùng lớp tên Hiền giải thích: “Không phải người ăn xin đâu, đó là thợ cạo mủ cao su đấy. Họ nghèo khổ, lương không đủ sống, lại bị sốt rét rừng, không có thuốc uống tội nghiệp lắm!”

Mỗi đứa học trò và cả má lúc ấy đều móc túi ra giúp đỡ người khổ. Khi về nhà, má được cha mình giải thích thêm về tình hình khốn khổ của người phu cao su, hình ảnh ấy cứ làm má ray rứt mãi. Niềm nung nấu ấy dần lớn thêm từng ngày. Năm 13 tuổi, suy nghĩ ấy của má không còn đóng khung trong nhà trường nữa mà mở rộng quan hệ bạn bè trong xã hội; với ý muốn vượt lên số phận, hơn hết muốn giải phóng phụ nữ khỏi kiếp sống đau khổ của giới nữ. Rồi má tham gia cách mạng, ra đi theo tiếng gọi của quê hương.

Chiếc xe đò Sài Gòn – Mỹ Tho định mệnh tách bến từ con đường Trần Hưng Đạo hướng về phía Chợ Lớn. Hôm ấy là ngày 25/12/1947, một ngày rất đáng ghi nhớ trong đời má. Buổi ban mai khi tất cả còn đóng cửa im lìm trong giấc ngủ, khoảnh khắc ấy, xe chạy vun vút qua nhanh, nhìn thoáng xa kia là ga Sài Gòn, rạp hát Nguyễn Văn Hảo và căn nhà 21 Trần Hưng Đạo, rời xa trụ sở bí mật là nơi cùng các chị lớn lên trong bàn tay cách mạng để bay xa hơn với ước mơ là làm chiến sĩ cách mạng, làm cô Vệ quốc quân. Má đành phải khất lại bao nhiêu hy vọng ủ ấp của ba, má mình, mong muốn co gái cố gắng học và đi du học cho có tương lai, trong lòng buồn tê tái trước giờ ly biệt.

Thấm thoát cũng đã tuổi 17 – 18 tuổi, những ngày đầu rời xa nhà, má cùng Nhu –là bạn học đường, được các chị em dẫn dắt, từng bước đi theo đường dây từ thị xã về tỉnh. Phần lớn thời gian di chuyển vào ban đêm bằng đường bộ để tránh địch. Đường đi vừa xa, với muôn vàn nguy hiểm thì má càng nung nấu lý tưởng con đường cách mạng bảo vệ tổ quốc.

Đêm đầu tiên xa nhà má và Nhu nhớ gia đình đến não ruột chỉ biết lặng thinh trông xa, mỗi người theo đuổi ý nghĩ riêng. Ký ức thời thơ ấu, quãng đời học sinh trôi qua như một giấc mộng đẹp ùa về. Mới đó mà má đã thoát ly gia đình, rời bỏ cuộc sống thành thị, ra chiến khu, đồng cam cộng khổ với các chiến sĩ làm cách mạng.

Theo chị An liên lạc dẫn đường ra chiến khu Đồng Tháp Mười, xế chiều đoàn đến xã Long Hưng, thuộc huyện Châu Thành, Mỹ Tho (nay là tỉnh Tiền Giang) – là xã nổi tiếng về truyền thống cách mạng và là một trong những trọng điểm của Khởi Nghĩa Nam Kỳ năm 1940. Tiếp nối đi theo đoàn có tổ võ trang, trước khi đi các đồng chí phổ biến kỷ luật đi đường, ám hiệu khi đứt đuôi hoặc phục kích, hai đồng chí dẫn đầu và một khoá đuôi. Khi thì băng qua mương, vượt qua lộ, đi phải êm, hành quân ban đêm gian nan vất vả, chân mỏi rã rời nhưng lòng mang niềm thích thú khi nghĩ mình hoà nhập vào cuộc kháng chiến. Đến chặng cuối đến trạm của tỉnh, đoàn đi bằng xuồng, không khí hai bên bờ kinh, vùng nông thôn giải phóng ban đêm náo nhiệt hơn ban ngày. Tiếng nô đùa trẻ con, hát xướng vui vẻ hay thỉnh thoảng những tiếng vỗ tay nhịp nhàng hát những bài ca mới của nhóm thanh niên. Đây mới thật sự là vùng giải phóng.

Đến trạm, má cùng các chị em được bố trí trong đội Tuyên truyền xung phong của Ty, đúng đợt công tác huyện Châu Thành, má và Nhu thiết tha đề nghị và được các chị chấp thuận đi theo học tập thực tế. Đoàn sẽ đến các xã Điềm Hy, Đạo Thạnh, Trung An để tuyên truyền về đời sống mới. Các chị tuyên truyền xen giữa nội dung nếp sống mới phổ biến cho đồng bào là những bài hát, vở kịch ngắn vui.v..v.. Chị nào cũng duyên dáng, hát hay, nói chuyện hấp dẫn. Má tự hỏi không biết đến bao giờ mới nói được như các chị.

Rồi má và Nhu được đưa về cơ quan Phụ nữ cứu quốc khi giữa chừng đợt công tác, Ban Thường vụ Phụ nữ Nam Bộ phân công mỗi người đi một tỉnh. Nhu đi Vĩnh Long, còn má đi Gò Công. Gò Công khi ấy, địch lấn chiếm, cần củng cố, đây là nơi má được rèn luyện thử thách. Đi cùng má là chị Sáu Xê, người dẫn đường và cùng chị chia sẻ về những lý tưởng, nhân sinh cách mạng, chủ nghĩa Mác – Lênin, về lập trường giai cấp và đặc biệt là nổi thống khổ của phụ nữ dưới chế độ phong kiến, tư bản. Vạch ra con đường giải phóng phụ nữ là câu trả lời chị Sáu Xê đáp án những câu hỏi của má là khi nào dân tộc và giai cấp được giải phóng, phụ nữ phải độc lập về kinh tế thì mới bình đẳng với nam giới được. Má tâm đắc và thấm thía điều đó, chỉ có cách mạng mới giải phóng con người, nhất là những người bị áp bức như phụ nữ. Câu chuyện hai chị em kéo dài suốt thời gian đi đường. Mấy chốc đã đến nơi, má được phân công công tác tuyên truyền với quần chúng ở nông thôn tại địa phương.

Không chỉ đơn thuần đi tuyên truyền cho đồng bào theo sự phân công, có lần má còn nhớ, ở Vườn Thơm tại Chợ Lớn tháng 2/1949, xảy ra trận càn lớn, lúc trời vừa sáng, sương mù chưa tan, tiếng mõ vang lên trong xóm báo động, trong lúc hỗn loạn chạy giặc, má cùng vợ chồng anh Năm Tú là công an ở thành ra thăm nhờ xuồng qua kinh hướng chạy về rừng Bà Vụ. Máy bay trinh sát L19 của địch quần đảo trên trời, siết chặt vòng vây, xả súng dọc theo bờ kinh và các đường mòn. Anh Năm dẫn vợ và má chui vào đám chồi rậm, thu mình lại nghe ngóng bên ngoài. Xen kẽ tiếng động cơ máy bay, súng bắn, còn có những quả bom đìa. Địch đốt rừng, vợ anh Năm nắm chặt tay anh, còn má níu tay chị cho đỡ run. Lửa bốc cháy ngày càng cao như thiêu đốt, má cố tự trấn tĩnh theo lời dặn của anh Năm. Tình hình kéo dài ba, bốn tiếng, tiếng súng bắt đầu thưa thớt, lửa rụi xuống, chỉ còn khói nghi ngút, theo chân anh Năm cảnh giác đi dò từng bước phòng bom bi hoặc mìn, ra đến bìa rừng.

Vượt qua mọi khó khăn, gian khổ trong kháng chiến má luôn được những lời chỉ dẫn của các chị động viên. Má cảm thấy mình đã trưởng thành lên nhờ sự dìu dắt của tổ chức. Đặc biệt, cuộc sống tập thể ở cơ quan Phụ nữ Nam Bộ lúc đó vui vẻ, ấm áp như một gia đình. Bà Mười Thập là người chị cả, kế đó là bà Tư Định, bà Lê Đoan, trong lúc đi công tác chung nhiều ngày đường, má được nghe các chị kể cho nghe cuộc đời chiến đấu thời lúc còn trẻ. Má rất khâm phục tấm gương chiến đấu dũng cảm của những người phụ nữ.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
MÁ TÁM THANH | Câu chuyện thời hoa lửa