Ma Văn Thắng – Người biến chiếc xe đạp thành “ngựa thồ” Điện Biên
Từ một chiếc xe đạp thông thường chỉ chở được khoảng 80–100 kg, dân công Ma Văn Thắng đã cùng đồng đội gia cố khung, lốp và lắp thêm “tay ngai”, “cọc thồ”. Chiếc xe của ông lập mức tải 352 kg, góp phần đưa lương thực, đạn dược vượt núi rừng đến Điện Biên Phủ.
Trên những con đường núi dẫn vào Điện Biên Phủ năm 1954, có một chiếc xe đạp không còn được sử dụng để chở người. Nó không có người ngồi trên yên, cũng không thể đạp như một chiếc xe thông thường.
Hai bên xe là những bao gạo và thùng hàng chất cao. Người dân công phải đi bộ, một tay điều khiển chiếc “tay ngai” nối dài từ ghi-đông, tay kia giữ “cọc thồ” để đẩy chiếc xe nặng hàng trăm kilôgam vượt qua đường dốc.
Chủ nhân của một trong những chiếc xe đặc biệt ấy là dân công Ma Văn Thắng, quê ở Phú Thọ.
Tên tuổi ông được lịch sử ghi lại cùng một con số khó tin: 352 kg hàng trong một chuyến vận chuyển.
Để chuẩn bị cho Chiến dịch Điện Biên Phủ, quân và dân Việt Nam phải giải quyết một bài toán hậu cần vô cùng khó khăn. Mặt trận nằm giữa vùng núi Tây Bắc, cách xa các căn cứ hậu phương. Đường đi hiểm trở, nhiều đèo cao, vực sâu và thường xuyên bị máy bay đối phương đánh phá.
Hàng chục nghìn tấn lương thực, vũ khí, đạn dược và thuốc men phải được chuyển đến chiến trường. Trong khi đó, nhiều con đường quá hẹp hoặc quá dốc nên xe cơ giới khó hoạt động.
Những chiếc xe đạp của nhân dân đã được huy động ra mặt trận.
Ban đầu, mỗi xe chỉ chở được khoảng 80 đến 100 kg hàng. Tuy đã nhiều hơn sức gánh của một người, mức vận chuyển ấy vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu rất lớn của chiến dịch.
Từ thực tế trên đường vận tải, Ma Văn Thắng cùng những người dân công tìm cách cải tiến xe. Họ không có những nhà xưởng hiện đại hay thiết bị chuyên dụng. Nguyên liệu chỉ là tre, gỗ, sắt, dây buộc, săm cũ và quần áo đã qua sử dụng.
Một đoạn tre dài khoảng một mét được buộc vào ghi-đông, trở thành “tay ngai”. Người điều khiển có thể sử dụng đoạn tre này để giữ hướng và ghì xe khi xuống dốc.
Một đoạn tre khác được gắn vào trục yên, nhô cao phía sau. Bộ phận này được gọi là “cọc thồ”, vừa giúp giữ thăng bằng, vừa làm điểm tựa để người dân công dùng vai và cánh tay đẩy xe lên dốc.
Khung xe được hàn thêm sắt hoặc buộc thêm những thanh gỗ để tăng độ cứng. Săm và lốp được quấn bằng vải, quần áo cũ hay những sợi mây để hạn chế thủng, rách khi đi qua đường đá.
Nhờ những cải tiến tưởng như đơn giản ấy, sức chở của xe đạp được nâng lên từng bước: từ 100 kg lên 200 kg, rồi vượt mức 300 kg.
Ma Văn Thắng không dừng lại ở việc cải tiến phương tiện. Ông còn trực tiếp thử nghiệm chiếc xe trên những cung đường khó khăn nhất, tìm cách sắp xếp hàng hóa và điều chỉnh trọng tâm để xe không bị nghiêng đổ.
Cuối cùng, chiếc xe của người dân công Phú Thọ đã chở được tới 352 kg hàng.
Đó là khối lượng gấp nhiều lần khả năng của một chiếc xe đạp thông thường và lớn hơn sức gánh của nhiều người cộng lại. Nhưng người điều khiển không chỉ cần sức khỏe. Để đưa được chiếc xe ấy qua đường rừng, họ phải có kinh nghiệm, sự khéo léo và khả năng phối hợp nhịp nhàng với đồng đội.
Trên đường bằng, người dân công giữ xe tiến từng bước. Khi lên dốc, có người hỗ trợ đẩy phía sau hoặc kéo phía trước. Khi xuống dốc, người điều khiển phải ghì chặt tay ngai, sử dụng cọc thồ và cả sức nặng của cơ thể để chiếc xe không lao xuống vực.
Ban ngày, máy bay đối phương thường xuyên trinh sát và đánh phá các tuyến vận chuyển. Nhiều đoàn dân công phải đi vào ban đêm, dưới ánh đèn được che kín. Đường trơn, tầm nhìn hạn chế và những khúc cua quanh sườn núi khiến mỗi chuyến đi đều có thể trở thành một cuộc thử thách.
Các đoàn xe vẫn tiếp tục tiến về phía trước.
Mỗi bao gạo được đưa tới trận địa là thêm những bữa ăn cho bộ đội. Mỗi thùng đạn vượt qua đèo cao là thêm sức mạnh cho những trận đánh. Mỗi chiếc xe tới được nơi tập kết là một phần của hậu phương đã đến với tiền tuyến.
Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, khoảng 21.000 xe đạp thồ được sử dụng trên các tuyến vận tải. Năng suất của phương tiện này cao hơn nhiều lần so với gánh bộ, trong khi có thể hoạt động trên những con đường mà ô tô không đi được.
Phía Pháp từng tính toán rằng quân đội Việt Nam không thể cung cấp đủ lương thực và đạn dược cho một chiến dịch kéo dài ở Điện Biên Phủ. Nhưng họ đã không tính hết sức sáng tạo và sự tham gia của hàng vạn người dân.
Những chiếc xe đạp cũ, dưới bàn tay của Ma Văn Thắng và đồng đội, đã trở thành một “binh đoàn vận tải” đặc biệt. Chúng góp phần làm đảo lộn những tính toán hậu cần của đối phương.
Ngày 7/5/1954, lá cờ “Quyết chiến – Quyết thắng” tung bay trên nóc hầm của tướng De Castries. Trong chiến thắng ấy có công sức của những người trực tiếp cầm súng, nhưng cũng có dấu bánh xe của hàng vạn dân công đã âm thầm vượt núi rừng tiếp tế cho mặt trận.
Ma Văn Thắng không chỉ lập nên một mức tải đáng nhớ. Quan trọng hơn, ông cho thấy sức mạnh của óc sáng tạo trong hoàn cảnh thiếu thốn. Với tre, gỗ và những vật liệu giản đơn, người dân công đã biến chiếc xe đạp bình thường thành phương tiện vận tải có khả năng chuyên chở hàng trăm kilôgam.
Chiếc xe đạp thồ gắn với tên ông được lưu giữ, trưng bày như một hiện vật của chiến thắng. Trên thân xe không có động cơ, không có thiết bị hiện đại. “Động cơ” của nó chính là đôi tay, đôi chân và ý chí của con người Việt Nam.
Lịch sử thường nhớ đến Điện Biên Phủ qua những trận đánh lớn. Nhưng phía sau mỗi khẩu pháo và mỗi chiến hào là một con đường hậu cần được xây dựng bằng sức dân.
Trên con đường ấy, Ma Văn Thắng đã đẩy một chiếc xe chở 352 kg hàng tiến về phía trước. Mỗi vòng bánh xe là một bước chân của hậu phương hướng tới Điện Biên, góp phần tạo nên chiến thắng “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”.


