Bài viết

Madame Bình "Bông hồng thép" của Việt Nam

Một nhà ngoại giao và nhà hoạt động cách mạng tiêu biểu của Việt Nam. Bà có nhiều đóng góp trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, đặc biệt tại Hội nghị Paris, nơi bà đại diện cho Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Bà là biểu tượng của bản lĩnh, trí tuệ và tinh thần yêu nước của phụ nữ Việt Nam.

TP. Hồ Chí Minh24/08/2026Xã Nghi Xuân (Xã Nghi Xuân)5 lượt xem0 lượt chia sẻ
Madame Bình "Bông hồng thép" của Việt Nam

Madame Bình "Bông hồng thép" của Việt Nam

Một nhà ngoại giao và nhà hoạt động cách mạng tiêu biểu của Việt Nam. Bà có nhiều đóng góp trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, đặc biệt tại Hội nghị Paris, nơi bà đại diện cho Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Bà là biểu tượng của bản lĩnh, trí tuệ và tinh thần yêu nước của phụ nữ Việt Nam.

Nguyễn Thị Bình sinh ngày 26 tháng 5 năm 1927 tại xã An Hiệp, huyện Châu Thành (nay là xã Phú Hựu), tỉnh Đồng Tháp. Cha của bà, ông Nguyễn Đồng Hợi, có nguyên quán ở Gò Nổi, Điện Bàn, Quảng Nam, còn mẹ của bà là Phan Thị Châu Lan, con gái của Phan Châu Trinh.

image.png

Tại miền nam, bắt đầu từ năm 1954, Hoa Kỳ hậu thuẫn chính phủ Ngô Đình Diệm truy bắt, tiêu diệt lực lượng kháng chiến ở Nam bộ. Trong những năm 1954–1959, ở miền Nam đã có 466.000 người bị bắt, trong đó khoảng 400.000 người bị đưa đi đày và 68.000 người bị xử tử. Trước tình hình đó, năm 1960, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập. Năm 1962, bà được điều trở lại miền Nam với cái tên mới là Nguyễn Thị Bình, giữ chức vụ Ủy viên Trung ương Mặt trận Giải phóng, hoạt động ở mảng đối ngoại, kiêm Phó Tổng thư ký Hội Phụ nữ Giải phóng.

Năm 1963, bà sang Trung Quốc và được Mao Trạch Đông đón tiếp. Cuối năm 1968, bà được cử làm Trưởng đoàn đàm phán của Mặt trận Giải phóng sang Paris dự Hội nghị Paris về Việt Nam, đến đầu tháng 1 năm 1969, ông Trần Bửu Kiếm giữ chức vụ trưởng đoàn, còn bà về nước để chuẩn bị cho việc thành lập Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam

Ngày 6 tháng 6 năm 1969, Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được thành lập, bà được cử làm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao. Sau đó bà lại trở sang Paris đảm nhận lại chức vụ Trưởng đoàn đàm phán của Chính phủ lâm thời. Trong suốt thời gian 1968-1972, bà nổi tiếng trong các cuộc họp báo tại hội nghị 4 bên tại Paris, được giới truyền thông đặt cho biệt hiệu Madame Bình.

Trong suốt 3 năm rưỡi, bà cùng với ngoại trưởng Lê Đức Thọ đã kiên trì đấu tranh với phái đoàn Mỹ để đạt được những điều khoản có lợi cho Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Cuối cùng, nhờ kết quả chiến trường phối hợp với sức ép ngoại giao, chính phủ Mỹ chấp nhận nhượng bộ vào cuối năm 1972. Phía chính phủ Sài Gòn của Nguyễn Văn Thiệu phản đối việc Mỹ nhượng bộ, tuy nhiên tổng thống Mỹ Richard Nixon đã nói với ngoại trưởng Henry Kissinger rằng chính Mỹ mới là bên có quyền quyết định và chính phủ Sài Gòn phải tuân theo

Sau sự kiện 30 tháng 4, bà trở thành Bộ trưởng Bộ Giáo dục (1976–1987), rồi Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Quốc hội, Phó trưởng Ban Đối ngoại Trung ương Đảng (1987–1992). Bà còn là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá V (1982–1986), Đại biểu Quốc hội từ khoá VI đến khoá X (1976–2002).

Năm 1975, bà đi công du nhiều nước, vận động quốc tế ủng hộ Việt Nam. Bà đã có cuộc gặp với Tổng thống Iraq Saddam Hussein. Ông Saddam khi nghe trình bày của Việt Nam, đã quyết định tặng Việt Nam 400 ngàn tấn dầu và cho vay 1,5 triệu tấn với lãi suất ưu đãi. Sau này khi Iraq bị cấm vận, nước này vẫn dành cho Việt Nam những hợp đồng trao đổi thương mại rất thuận lợi. Năm 2002, bà Bình đến Iraq lần cuối để đàm phán món nợ hơn 20 năm còn chưa trả xong, ông Saddam Hussein nói ngay: "Các bạn Việt Nam không nên bận tâm. Tôi biết các bạn còn khó khăn, ta xem như số nợ này đã trả rồi." Sau đó ít lâu, chính phủ Mỹ vu cáo Saddam là tàng trữ vũ khí hủy diệt hàng loạt, ông bị quân Mỹ lật đổ và xử tử. Bà Bình nghe tin thì rất xúc động, bà cho rằng Việt Nam cần biết ơn sự giúp đỡ quý báu của ông Saddam.

Năm 1992, tại kỳ họp Quốc hội khóa IX, bà được bầu làm Phó Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và giữ chức vụ này liên tục trong 10 năm (1992–2002). Bà là người phụ nữ Việt Nam thứ hai giữ chức vụ phó nguyên thủ sau bà Nguyễn Thị Định, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước.

Sau khi nghỉ hưu vào năm 2002, bà tiếp tục làm Chủ tịch của Quỹ Bảo trợ trẻ em Việt Nam. Năm 2003, bà thành lập và giữ vai trò Chủ tịch Quỹ Hòa bình và phát triển Việt Nam. Ngoài ra, bà cũng là Chủ tịch danh dự của Hội nạn nhân chất độc da cam/đioxin Việt Nam kể từ khi hội này được thành lập vào tháng 1 năm 2004.

Năm 2001, bà được Chủ tịch nước Trần Đức Lương trao tặng Huân chương Hồ Chí Minh.

Ngày 25 tháng 08 năm 2025, tại Lễ kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập ngành Ngoại giao do Bộ Ngoại giao tổ chức tại Hà Nội, Tổng Bí thư Tô Lâm đã trao danh hiệu “Anh hùng Lao động” tặng bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó Chủ tịch nước, nguyên Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Trưởng phái đoàn đàm phán của Chính phủ Cách mạng lâm thời tại Hội nghị Paris về Việt Nam từ năm 1969 đến năm 1973

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn