MADAME BÌNH “BÔNG HỒNG THÉP TRONG LỊCH SỬ NGOẠI GIAO VIỆT NAM”
Tiểu sử và sự nghiệp
Nguyễn Thị Bình tên khai sinh là Nguyễn Thị Châu Sa, sinh ngày 26 tháng 5 năm 1927, quê quán tại xã Điệu Quang, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Bà là cháu ngoại của cụ Phan Châu Trinh, một nhà yêu nước, nhân vật lịch sử nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam. Trước khi trở thành Phó Chủ tịch Nước, bà đã có một sự nghiệp ngoại giao vô cùng ấn tượng, góp phần quan trọng trong việc đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc và tạo dựng nền hòa bình cho đất nước. Một trong những dấu mốc quan trọng nhất trong cuộc đời bà là việc ký kết Hiệp định Paris vào năm 1973, đánh dấu sự kết thúc của cuộc chiến tranh kéo dài và đầy gian khổ tại Việt Nam.
Năm năm đàm phán đầy cam go
Vào cuối năm 1968, trong bối cảnh chiến tranh Việt Nam đang diễn ra vô cùng khốc liệt, bà Nguyễn Thị Bình được cử làm trưởng đoàn của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tham gia vào các cuộc đàm phán Hiệp định Paris. Ngày 4 tháng 11 năm 1968, khi vừa đặt chân đến Paris, bà đã gây ấn tượng mạnh mẽ khi phát biểu về giải pháp năm điểm của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Trong bài phát biểu, bà nhấn mạnh rằng: “Một là, mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam phấn đấu thực hiện độc lập, dân chủ, hòa bình và thống nhất đất nước. Hai là, Mỹ phải chấm dứt chiến tranh và rút quân khỏi Việt Nam. Ba là, công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam phải do nhân dân miền Nam tự giải quyết. Bốn là, việc thống nhất Việt Nam là quyền của nhân dân Việt Nam. Năm là, Việt Nam thực hiện chính sách ngoại giao hòa bình và trung lập.” Bài phát biểu mạnh mẽ và thẳng thắn của bà đã gây tiếng vang lớn trong cộng đồng quốc tế. Ngay lập tức, bà Nguyễn Thị Bình được dư luận quốc tế gọi là “Madam Bình” và bà trở thành một biểu tượng mới trong phong trào chống chiến tranh và đấu tranh cho hòa bình. Những câu trả lời sắc bén của bà đối với các phóng viên quốc tế cũng tạo nên những dấu ấn không thể quên. Một trong những câu hỏi nổi tiếng là khi một nhà báo phương Tây hỏi bà có phải là đảng viên Đảng Cộng sản hay không, bà đã trả lời một cách khéo léo và thông minh: “Tôi thuộc Đảng yêu nước.” Câu trả lời này không chỉ khiến nhà báo kia im lặng mà còn cho thấy sự mưu trí và bản lĩnh của bà trong những cuộc đàm phán căng thẳng.
Cuộc đàm phán tại Paris kéo dài từ năm 1968 đến 1973 và được coi là một trong những cuộc đàm phán ngoại giao khó khăn nhất trong lịch sử. Bà Nguyễn Thị Bình, với tư cách là đại diện của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, đã có những cuộc đối đầu quyết liệt với các phái đoàn Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Tuy nhiên, với sự kiên trì, thông minh và tinh thần bất khuất, bà đã cùng các đồng đội của mình mang lại một chiến thắng ngoại giao vĩ đại cho dân tộc Việt Nam. Trong suốt quá trình đàm phán, bà đã phải đối diện với hàng loạt câu hỏi khó từ giới truyền thông và các nhà ngoại giao phương Tây. Một lần, một nhà báo hỏi bà về sự hiện diện của quân đội miền Bắc tại miền Nam, bà đã trả lời:“Dân tộc Việt Nam là một, người Việt Nam ở Bắc cũng như ở Nam đều có nghĩa vụ chiến đấu chống xâm lược.” Khi nhà báo hỏi về vùng giải phóng của Việt Nam, bà khẳng định rằng mọi nơi mà Mỹ ném bom và bắn phá chính là vùng giải phóng của Việt Nam. Những câu trả lời dứt khoát và kiên định của bà đã khiến đối phương phải thán phục và hiểu rõ hơn về cuộc đấu tranh chính nghĩa của dân tộc Việt Nam.
Ký kết Hiệp định Paris và những kỷ niệm sâu sắc
Ngày 27 tháng 1 năm 1973, Hiệp định Paris chính thức được ký kết, chấm dứt cuộc chiến tranh kéo dài và mở ra một kỷ nguyên hòa bình cho Việt Nam. Bà Nguyễn Thị Bình đã đặt bút ký vào bản Hiệp định này, và mỗi khi nhắc lại sự kiện trọng đại đó, bà vẫn không khỏi xúc động. Bà chia sẻ rằng, khi ký vào Hiệp định Paris, bà nhớ đến những đồng bào và chiến sĩ đã hy sinh trong cuộc chiến tranh gian khổ. Bà xúc động kể lại: “Khi đặt bút ký vào bản Hiệp định chiến thắng, nghĩ đến những đồng bào, đồng chí ngã xuống, mắt tôi bỗng nhòe ướt.” Hiệp định Paris không chỉ là một chiến thắng trong đàm phán mà còn là một minh chứng cho lòng kiên trì, bản lĩnh và sự đoàn kết của nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh giành độc lập. Chính bản Hiệp định này đã mở đường cho việc chấm dứt chiến tranh và xây dựng lại đất nước sau bao nhiêu năm tháng chiến đấu đẫm máu. Đây là một thắng lợi ngoại giao vĩ đại và mãi mãi gắn liền với tên tuổi của bà Nguyễn Thị Bình.
Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam Nguyễn Thị Bình ký văn kiện Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, ngày 27/1/1973, tại Trung tâm Hội nghị Quốc tế ở thủ đô Paris (Pháp) (Ảnh: Văn Lượng - TTXVN).
Sau nhiều nỗ lực, ngày 27/1/1973, Hiệp định Paris được ký kết. Nhớ về ngày lịch sử của dân tộc, cũng là ngày không thể quên trong cả cuộc đời, bà Bình xúc động: "Tôi như thay mặt nhân dân và các chiến sĩ cách mạng miền Nam Việt Nam làm nhiệm vụ đấu tranh trên tiền tuyến và trong lao tù cắm ngọn cờ chiến thắng chói lọi. Vinh dự đó đối với tôi thật quá to lớn.
Tôi không có đủ lời để nói lên được lòng biết ơn vô tận đối với đồng bào và chiến sĩ ta từ Nam chí Bắc đã chấp nhận mọi hy sinh, dũng cảm chiến đấu để có được thắng lợi to lớn hôm nay, biết ơn Bác Hồ và cảm ơn các đồng chí lãnh đạo Đảng, Mặt trận và Chính phủ Cách mạng lâm thời đã tin cậy giao cho tôi nhiệm vụ khó khăn nhưng rất vẻ vang này…".
Bà Bình được cử tham gia hoạt động ngoại giao cho Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam từ năm 1961 và nhiệm vụ ban đầu dự kiến chỉ khoảng 6 tháng.
Thủ tướng Phạm Minh Chính thăm, chúc mừng nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình nhân Ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3 (Ảnh: Dương Giang - TTXVN).
"Dù ở cương vị nào, bà Bình cũng thể hiện được sự dũng cảm, trí tuệ và liêm chính. Bà là tấm gương điển hình cho tinh thần yêu nước, kiên trì nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ, tất cả vì Tổ quốc, vì nhân dân.
Bà cũng là nguồn cảm hứng mạnh mẽ cho các thế hệ phụ nữ Việt Nam trong mọi thời đại, thông minh, uyển chuyển, bản lĩnh", nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên nhấn mạnh.
(Bài viết có sử dụng tư liệu trong Hồi ký Nguyễn Thị Bình, Gia đình, bạn bè và đất nước)
Nguyễn Trung Trực là một vị anh hùng dân tộc nổi tiếng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Ông sinh khoảng năm 1839, quê ở vùng đất Kiên Giang. Từ sớm, ông đã tham gia nghĩa quân và trở thành một người chỉ huy dũng cảm, mưu trí.
Nguyễn Trung Trực nổi tiếng với chiến công đốt cháy tàu chiến L’Esperance của thực dân Pháp trên sông Vàm Cỏ Đông năm 1861. Sau đó, ông tiếp tục lãnh đạo nghĩa quân đánh chiếm đồn Rạch Giá, gây cho địch nhiều tổn thất nặng nề. Những chiến công đó đã làm rung chuyển quân xâm lược và khích lệ tinh thần đấu tranh của nhân dân ta.
Dù sau này bị giặc bắt, Nguyễn Trung Trực vẫn giữ vững khí tiết. Trước khi bị xử tử, ông đã khẳng khái nói: “Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam thì mới hết người Nam đánh Tây!”. Câu nói ấy thể hiện tinh thần yêu nước bất khuất, không chịu khuất phục trước kẻ thù.
Tấm gương anh dũng của Nguyễn Trung Trực đã trở thành biểu tượng sáng ngời về lòng yêu nước và ý chí kiên cường của dân tộc Việt Nam. Ông mãi mãi được nhân dân kính trọng và ghi nhớ.



