Mái đầu bạc ở số 1 Nguyễn Thái Học
Hòa bình rồi. Cái ngày Côn Đảo giải phóng, tôi bước ra khỏi cánh cửa ngục mà ngỡ như một giấc mơ. Tôi chọn Nha Trang làm nơi dừng chân, dựng một nếp nhà nhỏ tại số 1 đường Nguyễn Thái Học. Tiếng sóng biển Nha Trang bây giờ nghe thanh bình quá, không còn giống tiếng sóng gầm rú đầy tử khí ở ngoài khơi Côn Đảo năm xưa.
Hòa bình rồi. Cái ngày Côn Đảo giải phóng, tôi bước ra khỏi cánh cửa ngục mà ngỡ như một giấc mơ. Tôi chọn Nha Trang làm nơi dừng chân, dựng một nếp nhà nhỏ tại số 1 đường Nguyễn Thái Học. Tiếng sóng biển Nha Trang bây giờ nghe thanh bình quá, không còn giống tiếng sóng gầm rú đầy tử khí ở ngoài khơi Côn Đảo năm xưa.
Hôm nay, nhà tôi rộn ràng hơn hẳn. Anh Trương Thanh Danh và mấy anh em cựu tử tù từ TP. Hồ Chí Minh, Bình Định lặn lội bắt xe về thăm.
Mở cửa ra, nhìn thấy những mái đầu nay đã bạc trắng, những khuôn mặt hằn sâu vết chân chim và cả những vết sẹo của một thời bom đạn, chúng tôi chẳng ai nói được câu nào. Tôi lao đến, ôm chầm lấy anh Danh. Hai ông già ngoài bảy mươi tuổi, từng đối diện với họng súng pháp trường không một chút run sợ, giờ đây lại khóc ngon lành như những đứa trẻ.
Chúng tôi ngồi bên hiên nhà, uống chén trà xanh, nhìn ra đường phố Nha Trang tấp nập. Anh Danh chỉ vào vết sẹo trên cổ chân tôi – dấu vết của chiếc cùm sắt Chí Hòa năm xưa – rồi cười khà khà:
"Thằng Trà hồi đó lì lợm nhất phòng tử hình nha tụi bây!"
Tôi cười, rót thêm trà cho anh em. Chúng tôi còn ngồi được ở đây, còn nhìn thấy đất nước tự do, đó đã là một đặc ân lớn lao của cuộc đời. Nhưng trong niềm vui ấy, lòng chúng tôi vẫn thắt lại khi nghĩ về những đồng đội đã mãi mãi gửi thân xác dưới những nấm mồ không tên ở nghĩa trang Hàng Dương. Chúng tôi sống tiếp phần đời này, không chỉ cho riêng mình, mà cho cả những người nằm xuống.



