MÃI MÃI KHẮC GHI CÔNG ƠN MẸ - Viết về Mẹ VNAH Châu Thị Tâm
Theo lời chỉ đường của anh Nguyễn Văn Ớt, cán bộ Thương binh - xã hội xã, tôi đến thăm gia đình Bà mẹ Việt Nam anh hùng Châu Thị Tâm ở ấp Long Hiệp, xã Hòa Nghĩa.
Mẹ Châu Thị Tâm (1902 - 1972), quê quán ở xã Tiên Thủy, huyện Châu Thành, có chồng là ông Phạm Văn Hảo ở ấp Long Hiệp - Hòa Nghĩa. Vợ chồng Mẹ sinh được 9 người con, một người mất từ nhỏ, còn lại 8 người: bốn trai, bốn gái.
Gia đình mẹ Tâm vốn có truyền thống cách mạng nối tiếp từ thời kỳ chống Pháp cho đến thời chống Mỹ. Người con trai thứ ba của Mẹ là liệt sĩ Phạm Văn Thâu sinh năm 1920, tham gia cách mạng từ năm 1945, là đội viên du kích. Năm 1951, ông bị giặc Pháp bắt chặt đầu rồi quăng mất xác. Người con gái thứ năm của mẹ Tâm là Phạm Thị Nhàn, là cán bộ giao liên bị giặc bắn ở Vườn Tràm Công - xã Tân Thiềng. Do thời đó việc đi lại làm giấy tờ xác nhận khó khăn, người chứng kiến vụ việc không còn nên đến nay con gái thứ năm của mẹ Tâm vẫn chưa được công nhận liệt sĩ. Con trai thứ sáu là Phạm Văn Tân (Lê Quang Bộ) là du kích mật từ năm 1948, tập kết ra Bắc năm 1954, ông là thương binh hạng 3/4. Liệt sĩ Phạm Văn Trò là con trai thứ mười của mẹ Tâm, ông tham gia bộ đội địa phương huyện Chợ Lách và hy sinh năm 1969.
Hiện nay thế hệ thứ hai trong gia đình mẹ Tâm chỉ còn lại người con dâu thứ mười - bà Huỳnh Thị Sanh, vợ của Liệt sĩ Phạm Văn Trò. Hiện bà Sanh sống với cháu ngoại trong căn nhà tình nghĩa được địa phương vận động xây tặng đã hơn hai mươi năm nay.
Bà Sanh về làm dâu trong gia đình mẹ Tâm từ năm 1965, đến năm 1972 thì mẹ Tâm lâm bệnh qua đời. Thời buổi chiến tranh loạn lạc, bảy năm bà Sanh về làm dâu ở nhà chồng có biết bao biến cố xảy ra: Mẹ chồng mất, chồng hy sinh, nhà cháy rụi vì máy bay giặc bắn, cả gia đình phải tản cư tạm lánh vào vùng giải phóng…
Bà Sanh kể, hồi đó nhà mẹ Tâm nghèo lắm, con đông nhưng lớn lên con trai thì đi kháng chiến, con gái theo chồng, mẹ Tâm sống nương tựa với người con dâu thứ mười. Làm hai công ruộng mỗi năm cấy có một mùa, lúa không đủ ăn, bà Sanh phải đi cấy, gặt hoặc mần cỏ mướn để phụ lo cuộc sống gia đình. Bà Sanh còn nhớ, vợ chồng về sống với nhau được hơn hai năm thì chồng bà - liệt sĩ Phạm Văn Trò thoát ly đi bộ đội cho tới ngày hy sinh. Có một lần bà tìm vô căn cứ thăm chồng là lần bà có mang người con thứ hai với ông Mười Trò.
Ngày nhận tin báo tử con trai, mẹ Tâm chết điếng trong lòng mà không dám khóc vì bọn lính Sư đoàn 7 của ngụy nằm đặc ngoài vườn. Mẹ nuốt nước mắt dấu tin dữ với cả con dâu vì bà Sanh đang có mang mới hơn một tháng. Đến khi hay tin chồng hy sinh, dù gia đình ngăn cản nhưng bà Sanh quyết lòng tìm đến tận nơi đơn vị đã lấy xác ông về chôn cất. Đi bộ ròng rã một ngày với hơn tám lần chun hầm tránh đạn máy bay, có lúc tưởng như tính mạng không còn, bà Sanh mới đến được bên người chồng lúc đó chỉ còn là nấm mồ chưa xanh cỏ.
“Bà già như đứt từng khúc ruột nhưng cố làm tỉnh để động viên, an ủi con dâu” - bà Sanh nhớ lại. “Tôi cũng ráng gắng gượng vì bà ‘sắp nhỏ’ hy sinh rồi, tôi phải thay thế để lo cho mẹ già, con dại”.
Ba năm sau ngày người con trai út hy sinh, mẹ Tâm lâm bệnh qua đời. Bốn mươi hai năm sau, ngày 26 tháng 12 năm 2014, mẹ Tâm được Chủ tịch nước truy tặng danh hiệu cao quý Bà mẹ Việt Nam anh hùng.
Bốn mươi hai năm trôi qua. Thời gian đã làm phôi phai, xóa nhòa đi bao vết tích chiến tranh. Nhưng có những giá trị lịch sử mãi mãi trường tồn. Một trong những giá trị vĩnh hằng đó, chính là công đức hy sinh của những Bà mẹ Việt Nam anh hùng - trong đó có Mẹ Tâm.
Lịch sử đã ghi nhận, Nhà nước đã tri ân. Nhưng thế hệ hôm nay và mai sau mãi mãi biết ơn và ghi khắc công lao các Bà Mẹ anh hùng của đất nước Việt Nam anh hùng.



