MAI THỊ HOẠT - MỘT ĐỜI NHỚ TUỔI XANH
Hôm nay, thế hệ trẻ được sống trong một đất nước đã hòa bình và có rất nhiều cơ hội mà người đi trước từng mong đợi. Các cháu có thể học tập, lựa chọn nghề nghiệp, đi xa và làm những việc mà thế hệ chúng tôi thuở ấy khó hình dung. Điều tôi mong không phải là người trẻ phải sống giống mình, càng không phải mang trên vai những gian khó của một thời đã qua. Điều đáng giữ là khả năng nhìn thấy phần trách nhiệm của mình giữa cuộc sống chung. Có thể trách nhiệm hôm nay nằm ở một công việc được làm đến nơi đến chốn, ở sự tử tế với người khác, ở ý thức với quê hương hay ở việc không quay lưng khi cộng đồng cần một bàn tay góp sức.
Ngày bước vào quân ngũ, điều rõ nhất trong tôi không phải là mình sắp rời xa những gì quen thuộc bao lâu, mà là cảm giác từ đây cuộc đời đã có thêm một phần trách nhiệm. Tôi là Mai Thị Hoạt, sinh năm 1957, quê Thiệu Hóa. Năm 1976, khi khoảng mười chín tuổi, tôi tham gia quân ngũ, quãng phục vụ gắn với Đoàn 554 và kéo dài đến năm 1979. Trong những năm ấy, tôi được giao cương vị Tiểu đội trưởng. Tôi lên đường vào thời điểm đất nước vừa thống nhất, chiến tranh chống Mỹ đã kết thúc, non sông đã liền một dải, nhưng cuộc sống sau chiến tranh vẫn chất chứa vô vàn khó khăn. Niềm vui hòa bình còn rất mới, trong khi phía trước là cả một chặng dài khôi phục đất nước, ổn định đời sống và tiếp tục củng cố quốc phòng.
Tôi khi ấy mới mười chín tuổi. Ở tuổi đó, người con gái nào cũng có những ước mong rất đỗi bình thường về cuộc sống và tương lai. Tôi cũng không khác. Nhưng thế hệ chúng tôi lớn lên giữa những năm đất nước còn chiến tranh, nên ngày hòa bình đến đem theo một cảm nhận rất sâu rằng cuộc sống mới không thể tự nhiên trở nên tốt đẹp chỉ sau một đêm. Những người trẻ vẫn phải góp sức vào phần việc của mình. Đất nước vừa bước qua chiến tranh, nhiều thứ phải bắt đầu lại, nhiều thử thách mới đang chờ phía trước. Bởi thế, khi bước vào hàng ngũ, tôi mang theo sự phấn chấn của tuổi trẻ hơn là nỗi ngần ngại. Tôi muốn được thử sức, muốn tự biết mình có thể đứng vững đến đâu khi rời khỏi vòng quen thuộc của quê nhà.
Thiệu Hóa là nơi tôi lớn lên, cũng là nơi từ đó tôi bước ra một chặng đời hoàn toàn khác. Những ngày đầu chắc chắn không thể không có nỗi nhớ, nhưng người trẻ thường có một sức mạnh rất riêng: càng đứng trước điều chưa biết, càng muốn đi tới để khám phá khả năng của mình. Tôi không nghĩ đến chuyện phải trở thành một người đặc biệt. Tôi chỉ hiểu từ đây mình không còn sống hoàn toàn theo ý riêng. Quân ngũ sẽ đòi hỏi kỷ luật, khả năng tự lập và sự hòa mình với tập thể. Chính suy nghĩ ấy khiến bước chân của cô gái mười chín tuổi vừa có sự bồi hồi, vừa có một niềm tự hào kín đáo: mình đã bắt đầu một chặng mà sau này dù cuộc đời đi về đâu cũng sẽ khó quên.
Đoàn 554 và những ngày học cách gánh vác
Quãng đời quân ngũ của tôi gắn với Đoàn 554. Từ ngày đầu, tôi phải làm quen với một môi trường khác hẳn cuộc sống trước đó. Ở đây, mỗi cá nhân đều sống trong một tổ chức, mọi người phải biết điều chỉnh thói quen của mình để phù hợp với yêu cầu chung. Với người trẻ, đó là một sự thay đổi lớn. Có những điều trước đây có thể tùy ý thì nay phải biết tự đặt khuôn phép; có những lúc cảm xúc cá nhân phải lùi lại để việc chung được giữ nguyên. Tôi dần nhận ra quân đội rèn con người không phải chỉ qua những thử thách lớn, mà còn qua cách mình sống trong từng ngày, từng việc và từng mối quan hệ với những người chung quanh.
Khi được giao cương vị Tiểu đội trưởng, tôi càng cảm nhận rõ hơn rằng trách nhiệm luôn đi cùng sự tự rèn. Một cô gái chưa qua tuổi đôi mươi không thể chỉ dựa vào sự nhiệt tình để đứng trước một tập thể. Tôi phải học cách suy nghĩ chín chắn hơn, biết cân bằng giữa nguyên tắc và sự gần gũi, giữa điều cần nói và điều nên lắng nghe. Có những lúc, điều quan trọng không phải mình nói được bao nhiêu mà là người khác có cảm thấy được tôn trọng hay không. Cũng có những lúc, muốn mọi người cùng giữ được tinh thần thì trước hết bản thân phải biết kiểm soát sự dao động của mình. Chính cương vị ấy khiến tôi phải lớn lên nhanh hơn.
Dần dần tôi hiểu, người Tiểu đội trưởng không cần phải tỏ ra khác biệt với đồng đội. Trách nhiệm không làm mình đứng xa tập thể, mà khiến mình phải sống gần hơn với những người bên cạnh. Khi được giao một phần việc chung, điều đáng quý nhất là tạo được sự tin cậy bằng chính cách cư xử của mình. Tôi học cách không vội phán xét một người chỉ qua một lần chưa thuận, biết nhìn kỹ hơn những gì phía sau vẻ ngoài của mỗi đồng đội và biết tự nhận ra giới hạn của bản thân. Những bài học ấy không có hình dáng cụ thể, nhưng lại ngấm rất sâu. Từ một cô gái mười chín tuổi còn nhiều sôi nổi, tôi dần có thêm sự chững chạc để biết lúc nào cần tiến lên, lúc nào cần nhường một bước và lúc nào cần giữ vững điều không thể dễ dãi.
Đồng đội làm những năm tháng ấy thành ký ức
Nếu chỉ có kỷ luật mà không có tình người, đời quân ngũ hẳn sẽ rất khác. Với tôi, đồng đội chính là những người làm cho ba năm ấy trở thành một phần tuổi trẻ có sức sống đến tận sau này. Chúng tôi đến từ những nơi khác nhau, mang theo nhiều tính cách khác nhau. Có người nhanh nhẹn, người trầm tính; người dễ bắt chuyện, người phải gần gũi một thời gian mới hiểu. Nhưng sống trong cùng một môi trường, những khác biệt dần không còn là khoảng cách. Ngược lại, chính sự khác nhau khiến chúng tôi học được cách tôn trọng người bên cạnh và nhận ra rằng một tập thể không cần tất cả mọi người giống nhau mới có thể gắn bó.
Là Tiểu đội trưởng, tôi càng hiểu sự gắn bó ấy không tự nhiên mà có. Mỗi người đều có lúc vui buồn, có những suy nghĩ riêng và một cách phản ứng riêng trước khó khăn. Muốn đi cùng nhau, phải biết nhìn người khác bằng nhiều hơn một cảm xúc nhất thời. Có khi chỉ một sự nhường nhịn cũng giúp mọi việc nhẹ đi; có khi việc biết im lặng nghe hết câu chuyện của người bên cạnh lại quan trọng hơn một lời khuyên. Chính đời sống chung đã dạy tôi rằng trong một tập thể, sự nghiêm túc và tình cảm không hề đối nghịch. Nguyên tắc giúp mọi người giữ được trật tự, còn sự cảm thông khiến con người có thể gần nhau lâu hơn.
Những năm về sau, mỗi khi nhớ đến Đoàn 554, tôi thường nhớ đến nhiều gương mặt hơn là nhớ đến những khái niệm lớn lao. Thời gian làm con người thay đổi, nhưng ký ức vẫn có cách giữ lại một thế hệ ở đúng những năm họ còn rất trẻ. Trong miền nhớ ấy, chúng tôi vẫn là những cô gái, chàng trai của cuối thập niên 1970, còn nhiều sức lực, chưa biết đời mình sau đó sẽ đi đâu, nhưng đã từng đứng cạnh nhau trong một chặng không thể lặp lại. Điều quý nhất không phải chúng tôi đã giống nhau thế nào, mà là đã từng biết cách dựa vào nhau để mỗi người trưởng thành hơn.
Ba năm giữa một đất nước vừa qua chiến tranh
Từ 1976 đến 1979, Việt Nam bước vào những năm đầu sau thống nhất với rất nhiều thử thách. Chiến tranh chống Mỹ đã kết thúc, nhưng hậu quả của một cuộc chiến kéo dài không thể được khắc phục trong thời gian ngắn. Đời sống kinh tế còn thiếu thốn, công cuộc kiến thiết cần rất nhiều sức người, còn nhiệm vụ quốc phòng vẫn đặt ra những yêu cầu mới. Cuối thập niên 1970, tình hình bảo vệ biên giới của đất nước cũng có những diễn biến phức tạp. Trong bối cảnh ấy, những người đang đứng trong quân ngũ hiểu rằng hòa bình không có nghĩa trách nhiệm của người lính đã trở nên nhẹ nhàng hay có thể lơi đi.
Đối với tôi, ba năm ấy là khoảng thời gian đủ để sự hào hứng ban đầu được thử thách bằng đời sống thực tế. Ngày mới bước vào hàng ngũ, người trẻ có thể nhìn mọi thứ bằng một nguồn năng lượng rất mạnh. Nhưng càng về sau, tôi càng hiểu phẩm chất của con người không chỉ được nhìn thấy ở lúc đang hưng phấn. Có những ngày hoàn toàn bình thường, có những giai đoạn đòi hỏi sự kiên trì hơn là cảm xúc. Khi đang giữ cương vị Tiểu đội trưởng, tôi lại càng không thể sống tùy theo tâm trạng. Chính những ngày như vậy đã giúp tôi hiểu sâu hơn rằng bản lĩnh không phải lúc nào cũng vang lên thành lời; nhiều khi nó nằm trong việc biết tự điều chỉnh để ngày hôm nay không phụ đi điều mình đã chọn từ ngày lên đường.
Đến năm 1979, tôi kết thúc quãng quân ngũ khi khoảng hai mươi hai tuổi. Ba năm trước, tôi là cô gái mười chín tuổi bước vào hàng ngũ giữa những năm đầu hòa bình; khi trở về, tuổi đời vẫn còn rất trẻ nhưng cách nhìn cuộc sống đã thay đổi. Tôi hiểu hơn sức nặng của một lời giao phó, biết quý sự hòa thuận trong tập thể và biết rằng muốn người khác đặt niềm tin vào mình thì trước tiên phải học cách sống cho có trước có sau. Đất nước khi ấy vẫn đang đi qua một thời kỳ khó khăn. Cuộc sống sau quân ngũ cũng còn nhiều điều chưa biết. Nhưng tôi trở về với một sự vững tâm mà trước ngày lên đường mình chưa có.
Ba năm ấy vẫn còn trong cách tôi sống hôm nay
Nhiều năm sau nhìn lại, điều tôi nhớ về tuổi trẻ không chỉ là mình từng ở Đoàn 554, từng phục vụ từ năm 1976 đến 1979 hay từng được giao cương vị Tiểu đội trưởng. Những dấu mốc ấy quan trọng, nhưng sâu hơn là sự thay đổi chúng đã để lại trong tôi. Tôi từng bước vào quân ngũ với sự sôi nổi của một cô gái mười chín tuổi và rời hàng ngũ khi đã biết cân nhắc hơn trước một quyết định, biết nhìn một người bằng sự cảm thông hơn và hiểu rằng đứng trước tập thể trước hết là một yêu cầu phải nghiêm với chính mình. Ba năm không quá dài, nhưng đủ để tuổi trẻ có một phần ký ức mà thời gian càng lùi xa càng thấy quý.
Hôm nay, thế hệ trẻ được sống trong một đất nước đã hòa bình và có rất nhiều cơ hội mà người đi trước từng mong đợi. Các cháu có thể học tập, lựa chọn nghề nghiệp, đi xa và làm những việc mà thế hệ chúng tôi thuở ấy khó hình dung. Điều tôi mong không phải là người trẻ phải sống giống mình, càng không phải mang trên vai những gian khó của một thời đã qua. Điều đáng giữ là khả năng nhìn thấy phần trách nhiệm của mình giữa cuộc sống chung. Có thể trách nhiệm hôm nay nằm ở một công việc được làm đến nơi đến chốn, ở sự tử tế với người khác, ở ý thức với quê hương hay ở việc không quay lưng khi cộng đồng cần một bàn tay góp sức.
Nếu cuộc đời có một câu hỏi dành riêng cho tuổi trẻ, có lẽ đó không phải là “mình đã đi được bao xa”, mà là “trong những năm đầy sức lực nhất, mình đã đứng về phía điều gì”. Tôi đã có ba năm để tìm một phần câu trả lời trong quân ngũ. Những năm ấy qua đi từ lâu, nhưng bài học thì vẫn còn: được tin cậy là một điều đáng quý, biết gánh lấy phần việc của mình còn đáng quý hơn; và khi đã ở trong một tập thể, hãy để người khác nhớ đến mình bằng sự chân thành, vững vàng và nghĩa tình. Đó là điều tôi muốn gửi lại từ một thời tuổi xanh đã đi qua Đoàn 554.



