Cựu chiến binh

Mảnh ký ức Nam Đàn: Bát cơm đẫm vị tình quê

Trong cuộc đời mỗi người chiến sĩ, có những kỷ niệm không nằm ở những tấm huy chương, mà nằm ở những góc bếp đỏ lửa giữa những ngày gian khổ nhất. Với ông, đó là những năm tháng huấn luyện tại vùng đất Nam Đàn, Nghệ An – nơi nắng thì cháy sém đôi vai, mà mưa thì thấu tận tâm can.

Quảng Trị26/03/2026Từ Diệp Chi, Lớp 5A2, Trường tiểu học số 2 Ba Đồn (Phường Ba Đồn)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong cuộc đời mỗi người chiến sĩ, có những kỷ niệm không nằm ở những tấm huy chương, mà nằm ở những góc bếp đỏ lửa giữa những ngày gian khổ nhất. Với ông, đó là những năm tháng huấn luyện tại vùng đất Nam Đàn, Nghệ An – nơi nắng thì cháy sém đôi vai, mà mưa thì thấu tận tâm can.

Ngày ấy, ông còn là một chàng lính trẻ, đôi bàn tay chưa hết vết chai của bãi tập, đôi chân vẫn còn nhức mỏi sau những chuyến hành quân đêm. Đơn vị ông đóng quân tại nhà một bà cụ nghèo. Ngôi nhà nhỏ vách đất, mái tranh không ngăn nổi những cơn gió mùa lùa vào từng khe cửa, nhưng lại luôn ấm áp bởi tình thương của bà.

Sáng hôm ấy, trời chuyển rét đậm. Sương mù đặc quánh bao phủ lấy những rặng tre già. Khẩu phần ăn sáng của ông và đồng đội là một vắt bánh mì khô khốc, cứng nhắc vì cái lạnh, nuốt vào đến đâu thấy nghẹn đắng đến đó. Ông ngồi ở bậu cửa, cố nhai từng miếng bánh mì cho qua bữa để lấy sức ra thao trường.

Đúng lúc đó, từ gian bếp nhỏ vương mùi khói rơm, bà cụ bước ra. Bà nhìn vắt bánh mì trên tay ông, đôi mắt mờ đục chợt ánh lên sự xót xa. Bà đến bên, đôi bàn tay gầy guộc, nhăn nheo như rễ cây rừng khẽ nắm lấy tay ông, giọng bà run run vì xúc động:
“Các chú đừng ăn cái bánh mì khô ấy nữa, tội lắm... Lại đây mẹ bảo, mẹ có bát cơm nóng, chú vào mà ăn cho ấm cái bụng rồi hãy đi.”

Ông ngần ngại nhìn bà, vì ông biết bà cũng chẳng dư dả gì. Nhưng bà kéo tay ông đi, cái lực kéo nhẹ nhàng mà kiên quyết như người mẹ kéo con trai mình vào lòng. Trên chiếc chõng tre ọp ẹp bên bếp lửa còn nổ lách tách, bà dọn ra một bát cơm trắng ngần – những hạt gạo quý giá mà bà đã chắt chiu từ hũ gạo vốn đã vơi. Cạnh đó là một bát nước tương Nam Đàn đặc sánh, màu nâu sẫm, thơm lừng mùi đậu tương lên men.

Bà nói khẽ: “Đừng chê nhé, nhà mẹ nghèo, chỉ có cơm với tương thôi, nhưng nó nóng, nó chắc bụng chú ạ.”

Ông cầm bát cơm, hơi nóng từ đôi bàn tay bà truyền sang, ấm sực. Một thìa cơm trắng quyện với nước tương đậm đà, vị mặn mòi của đất Nghệ thắm thiết, vị ngọt thanh của hạt gạo và mùi khói bếp cay xè mắt. Trong giây phút ấy, mọi gian khổ của bãi tập, cái lạnh tê tái của mùa đông như tan biến hết. Ông thấy mình không còn là một người lính đang đi huấn luyện, mà như một người con đi xa trở về, được mẹ hiền chăm chút từng miếng ăn.

Nước mắt ông cứ thế trào ra, hòa vào bát cơm tương giản dị. Ông biết, bát cơm ấy không chỉ nuôi sống cơ thể ông, mà còn nuôi dưỡng cả ý chí và niềm tin trong ông. Đó là bát cơm của sự hy sinh, của tấm lòng người dân dành cho Bộ đội Cụ Hồ – một thứ tình cảm cao quý không gì đánh đổi được.

Những năm tháng sau này, ông đã đi qua nhiều miền đất, ăn nhiều món ngon vật lạ, nhưng không có hương vị nào có thể sánh được với bát cơm tương sáng hôm ấy tại Nam Đàn. Hình ảnh bà cụ đứng ở đầu ngõ, nhìn theo bóng chúng ông khuất dần sau rặng tre, mãi là động lực để ông vững tay súng, bảo vệ mảnh đất và những con người nồng hậu ấy.

Nhiều năm trôi qua, cuộc đời binh nghiệp cuốn ông đi khắp các nẻo biên cương, hải đảo. Thế nhưng, trong những đêm hành quân dưới ánh trăng hay những phút nghỉ ngơi nơi rừng thẳm, hương vị bát cơm tương và hơi ấm từ bàn tay gầy guộc của người Mẹ Nam Đàn năm ấy vẫn luôn là ngọn lửa sưởi ấm trái tim ông.

Theo lời kể: Cựu chiến binh: Nguyễn Xuân Kỳ

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn