Mảnh pháo trên đầu và hành trình tri ân đồng đội
Mảnh pháo trên đầu và hành trình tri ân đồng đội Bước vào chiến trường khi chưa đầy 18 tuổi, ông Nguyễn Văn Hòa (Đoan Hùng, Phú Thọ) đã trải qua những trận đánh khốc liệt từ Quảng Trị, Tây Nguyên đến Thượng Đức. Trong những năm tháng ấy, ông chứng kiến nhiều đồng đội hy sinh khi chưa kịp cầm súng chiến đấu.

Tuổi 18 bước vào “vùng bão lửa”
Năm 1972, khi đất nước đang trong những năm tháng chiến tranh ác liệt, Nguyễn Văn Hòa, chàng trai Đoan Hùng (Phú Thọ), vừa bước qua tuổi 18 đã tình nguyện lên đường nhập ngũ. Sau hơn hai tháng huấn luyện tại Đại Từ (Thái Nguyên), thuộc Trung đoàn 246, Quân khu Việt Bắc, đơn vị của ông nhận lệnh hành quân vào chiến trường miền Nam.
Những ngày đầu hành quân cũng là những ngày ông phải chứng kiến sự khốc liệt của chiến tranh. Nhiều đồng đội lần lượt hy sinh ngay trên đường vào chiến trường. Có nơi, đơn vị vừa đi qua đã mất hàng chục người. Những người lính trẻ chưa kịp nhìn thấy trận địa, chưa một lần chạm tay vào cò súng đã nằm lại giữa bom đạn.
Sau những mất mát ấy, ông Hòa cùng những đồng đội còn sống được bổ sung vào Sư đoàn 324, Quân khu Bình Trị Thiên. Từ đây, ông trực tiếp tham gia nhiều trận đánh ác liệt tại Hàm Bằng, Núi 620 và các vùng đồng bằng.
Đầu năm 1973, sau Hiệp định Paris, đơn vị ông rút về A Lưới (Thừa Thiên Huế) củng cố lực lượng. Nhưng chiến tranh vẫn chưa kết thúc. Tháng 6/1973, ông tiếp tục vượt Trường Sơn vào Tây Nguyên, tham gia chiến đấu tại Đắk Pét (Kon Tum), rồi tiến vào chiến trường Thượng Đức, Quảng Nam.
Ở nơi ấy, ngoài bom đạn, đói khát cũng trở thành thử thách khắc nghiệt. Người lính có khi chỉ có vài nắm gạo rang, miếng lương khô hay cọng rau rừng để cầm cự. Có những người vừa chia nhau miếng bánh, chỉ vài phút sau đã hy sinh bởi một loạt pháo. Người sống không có thời gian để khóc, chỉ kịp gom nhặt thi thể đồng đội, vội vã chôn cất ngay dưới làn đạn.
Mảnh pháo nằm lại trong hộp sọ
Ký ức đau đớn nhất đối với ông Hòa là những ngày chiến đấu tại cao điểm 1062, Thượng Đức vào tháng 9/1973. Đây là một trong những trận địa ác liệt khi quân ta phải đối đầu với lực lượng tinh nhuệ của đối phương.
Pháo từ ngoài biển Đà Nẵng liên tục dội xuống trận địa. Những loạt pháo nối tiếp nhau, đất đá tung lên, cả quả đồi rung chuyển. Trong một trận pháo, tiểu đội 15 người của ông chỉ còn lại vài người.
Một tiếng nổ dữ dội hất tung ông vào vách đất. Mảnh pháo sắc lạnh xuyên qua da đầu, găm sâu vào hộp sọ. Máu chảy ướt áo, ông ngã xuống giữa căn hầm đầy khói thuốc súng và tiếng rên của đồng đội.
Trong khoảnh khắc sinh tử ấy, ông chỉ còn biết nằm im chờ đêm xuống để đồng đội đưa ra khỏi trận địa. Hai người hy sinh tại chỗ, hai người khác bị thương nặng. Những người còn sống phải nén đau, chờ đến đêm mới cáng thương binh vượt sông Vu Gia về trạm phẫu.
Ông may mắn sống sót, nhưng vết thương ấy trở thành một phần cơ thể suốt đời. Mảnh đạn nằm trong hộp sọ hơn nửa thế kỷ. Khi tuổi cao, mảnh đạn bọc mỡ chèn ép hệ thần kinh, khiến một nửa cơ thể bên phải của ông bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Các bác sĩ từng cảnh báo ca phẫu thuật chỉ có khoảng 50% cơ hội thành công.
Nhưng người lính già vẫn bình thản lựa chọn sống chung với nó.
Bước ra khỏi chiến tranh, tiếp tục một cuộc chiến khác
Sau chiến tranh, ông Hòa không cho phép mình dừng lại. Ngày 20/4/1975, ông được cử đi học tại Trường Sĩ quan Lục quân. Sau đó, ông tiếp tục phục vụ trong quân đội, giữ nhiều cương vị tại Sư đoàn 312, Quân đoàn 1 và tham gia chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc năm 1979.
Đến năm 1981, sức khỏe suy giảm do vết thương cũ tái phát, ông rời quân ngũ, chuyển ngành.
“Tàn nhưng không phế”, ông tiếp tục học tập tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền, trở thành cán bộ công tác trong lĩnh vực tư pháp, đồng thời tham gia báo chí và công tác tuyên truyền tại địa phương.
Suốt 44 năm công tác, ông đảm nhiệm nhiều vị trí khác nhau nhưng điều ông dành nhiều tâm huyết nhất vẫn là đồng đội và những người chịu hậu quả chiến tranh.
Trong 25 năm làm Trưởng ban liên lạc Hội đồng ngũ, ông nhiều lần trở lại những chiến trường xưa, tìm kiếm mộ liệt sĩ, kết nối đồng đội và tri ân những người dân từng cưu mang bộ đội.
Đặc biệt, từ năm 2008 đến 2025, ông giữ cương vị Chủ tịch Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin huyện. Bản thân cũng là một nạn nhân chiến tranh, ông càng thấu hiểu những mất mát của các gia đình. Ông không ngại đi đến từng căn nhà, gặp từng hoàn cảnh để vận động các nguồn lực hỗ trợ, xây dựng những mái ấm cho những người còn mang nặng di chứng chiến tranh.
Từ ngày 1/7/2025, khi tổ chức hội cấp huyện không còn, ở tuổi ngoài 70, ông lại trở về cơ sở, tiếp tục vận động thành lập và duy trì hoạt động hội cấp xã. Với ông, chỉ cần còn sức thì vẫn còn có thể làm điều gì đó cho những người đã chịu nhiều mất mát.
“Mình còn sống trở về là cái phúc lớn lắm rồi”
Trong một lần an dưỡng tại Làng Hữu nghị Việt Nam, khi được hỏi về những huân chương, bằng khen đã nhận được, ông chỉ nhẹ nhàng xua tay.
Với người lính từng bước ra từ những trận địa đẫm máu, những phần thưởng ấy dường như không phải điều quan trọng nhất.
Ông nghĩ về những người đồng đội đã hy sinh. Nhiều người đến nay vẫn chưa tìm được hài cốt, chưa có một nấm mồ, một nén hương của người thân.
“So với những anh em giờ này vẫn còn nằm lại nơi rừng sâu núi thẳm, chưa có lấy một nấm mồ, một nén hương... mình còn được sống trở về là cái phúc lớn lắm rồi”, ông nói.
Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, mảnh pháo vẫn nằm trong hộp sọ, những vết thương vẫn nhắc ông về một thời chiến tranh khốc liệt. Nhưng thay vì để quá khứ trở thành nỗi đau, ông biến nó thành động lực để sống, cống hiến và tri ân.
Bởi với ông Nguyễn Văn Hòa, trở về sau chiến tranh không có nghĩa là câu chuyện của người lính đã kết thúc. Đó chỉ là sự bắt đầu của một hành trình khác – hành trình tìm đồng đội, sẻ chia với những người mang thương tích chiến tranh và gìn giữ ký ức về những người đã mãi mãi nằm lại cho ngày hôm nay.



