“ MẮT BIẾC “ – KHI TÂM HỒN ĐẶT DƯỚI ĐÁY MẮT LÀ DẤU VẾT TUỔI TRẺ
LƯỢC ĐẦU: “ Hoà Bình đáng giá bao nhiêu?”, liệu chúng ta có cần sự đổi dời, chuyển thúc một thời đại bằng việc khởi phát chiến tranh? Đứng ở hai bản ngã tách biệt, tỉnh thức về quy luật: chiến tranh tạo ra sự chuyển dịch tuyệt đối chưa bao giờ là chính xác. Nó có thể phá vỡ gông xiềng của tư tưởng phong kiến, đốt lên ngọn lửa thiêu rụi những mù mờ, tối nghĩa trong lương trị. Mặt khác, nó ném con người vào vòng chiến để tiêu diệt lẫn nhau. Khói lửa nhuốm mùi bom đạn, tuổi trẻ nhuộm hồng trồi sục vị máu tanh. Sau cùng, cái giá đắt nhất phải trả cho chiến tranh lại chính là cái giá đắt nhất để đổi lấy hoà bình.
Đất nào đã biết nỉ non những câu chuyện lời, đất nào là đất neo hồn người trẻ về với ông cha. Chẳng xa nơi đâu, thấm đẫm từng lợi vọng hồi từ quá khứ. Quên sao được, hương đồng cỏ nội dặc quánh mùi lúa vàng ươm, quên sao đây chiếc tên thuần hậu suốt bao năm căng mình trong bão đạn. Đó là Phú Yên - quê hương tôi, quê hương của những người trẻ đơn thuần và bất cứ ai chào đời khi súng trường chợt lặng tiếng, ký ức mênh mang lời ru đều chứa những câu chuyện kể không viết thành lời. Vì thế, ta không quên được nhưng với các cựu bình, họ càng không thể quên - trong một phần sương máu còn là một thời tuồi trê, một đời “ Hoa lửa “
Lần theo vết đạn, sụ hữu duyên hay tình cờ trong cơn mưa rào cuối tháng đã dẫn lối tôi tìm về với cựu bình Hoàng Kim Giai. Trên số 11/4, đường Lê Lợi, căn nhà nép mình sau ngõ nhỏ với hàng mận chín ngọn lịm cùng khoảng sân rộng trải dài. Đã gieo vào lòng tôi sự tò mò không rứt, khi cái nhìn lần đầu chạm đến - sự ngỡ ngàng hay tiếng bật khóc mà tôi nghĩ bản thân sẽ gặp phải. Lại chẳng xuăt hiện, chỉ còn lòng tự hào toả lấp trong trái tim. Ông là Hoàng Kim Giai, Tiểu đoàn trưởng, Tiểu đoàn 12, Trung đoàn Ngô Quyền.
PHẦN ĐẦU: Giai đoạn một: (1954 - 1964) Gói nụ hoa dưới mi mắt - xông pha khói lửa là binh đoàn Vệ quốc quân
Sinh năm 1928, trên mảnh đất Hoà Mỹ ( nay là Xã Hoà Mỹ, tinh Đắk Lắk) nơi “đất chưa kịp khô máu đã thấm mồ hôi người dân”. Cụ đã thấu suốt nổi đau, và mối thù “ rửa hận nước, trả thù nhà “ cùng khát vọng làm chủ vận mệnh dân tộc. Tuổi trẻ của chàng thanh niên ngoan cường ấy không được quyền phát triển theo quỹ đạo tự nhiên. Nó không đi qua những ngã rẽ cá nhân, mà bị nén lại trong một lựa chọn duy nhất: ra đi.” Đoàn Vệ quốc quân một lần ra đi. Nào có mong chi đâu ngày trở về. Ra đi ra đi bảo tồn sông núi. Ra đi ra đi thà chết chớ lui…” - lòng nhiệt thành phải được giữ đủ lớn, yêu là bản năng nguyên thủy. Nhưng, có quá nhiều thứ để yêu thì người chiến sĩ bắt buộc lựa chọn “ thiêu thân” cho những điều cao cả nhất. Vi thế, câu hát cụ ngập ngừng không phải phải sự tình cờ chớp nhoáng mà sự đại diện một tinh thần kéo dài suốt nhiều năm tháng. Ra đi ở đây không mang ý nghĩa lãng mạn, càng không phải là một quyết định bốc đồng, mà là sự chấp nhận rất sớm rằng đời mình sẽ không còn thuộc trọn về mình nữa. Những năm chiến đấu liên miên, bốn năm không tin tức gia đình, để cha phải đăng báo tìm con, cho thấy chiến tranh không chỉ cắt đứt sự sống - chết, mà còn cắt đứt cả những mối liên hệ tưởng như bền chặt nhất của đời người.
Sau năm 1954, Cụ tập kết ra Bắc trong tâm thế “đi rồi sẽ về”, nhưng chính khoảng thời gian ấy đã cho thấy một sự thật nghiệt ngã: lịch sử không cam kết với ai cả. Những năm học tập, huấn luyện ở Trường Lục quân 1 không phải là quãng nghỉ, mà là giai đoạn tuổi trẻ bị treo lơ lửng giữa hai bờ: chưa kịp sống cho riêng mình đã phải chuẩn bị để tiếp tục hi sinh. Ở Hoàng Kim Giai, tuổi trẻ của cụ như một nụ hoa bị gói chặt dưới mi mắt - chưa nở đã phải chịu bóng tối và áp lực. Không phải vì thiếu khát vọng, mà vì mọi khát vọng cá nhân đều bị xếp sau nhiệm vụ. Chính sự nén lại ấy tạo nên một kiểu trưởng thành đặc biệt: anh cần học cách im lặng trước mất mát, học cách coi gian khổ là điều bình thường, và coi việc “có lệnh là đi” như một quy luật sống không cần tranh luận.
PHẦN HAI: Giai đoạn ( 1964 -1975) : Xâu nhánh rễ bám đất, bám đá - trưởng thành từ tận cùng mất mát.
Từ năm 1964 trở đi, chiến tranh không còn là sự chuẩn bị mà là sự đối mặt trực diện. Khi cụ trở lại miền Nam trong vai trò Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 12, cụ không chỉ mang theo kinh nghiệm, mà còn mang theo toàn bộ trách nhiệm và sinh mệnh của hàng trăm con người. Những trận đánh ác liệt ở Phú Yên, đặc biệt là Núi Sầm và Mậu Thân 1968, đã đẩy người chỉ huy đến giới hạn khắc nghiệt nhất: chiến thắng đi cùng tổn thất không thể bù đắp. Lời trần thuật chậm rãi vang lên: một đơn vị gần 300 người, sau 15 giờ chiến đấu chỉ còn lại vài chục người sống sót, đó không chỉ là sự hao hụt lực lượng, mà là sự đổ vỡ tinh thần. Có lẽ, nổi đau lớn nhất của người chỉ huy không nằm ở việc thất bại hay thành công, mà ở chỗ phải chứng kiến đồng đội ngã xuống trong khi mình vẫn còn sống để tiếp tục ra lệnh.
Chính thời điểm này, tuổi trẻ của người lính không còn là nụ hoa bị nén mà biến thành những nhánh rễ. Rễ bám vào đất, vào đá, vào ký ức của những người đã hi sinh, để không bị cuốn trôi bởi đau thương. Tôi nhớ câu nói ấy: “biến đau thương thành hành động cách mạng”, không phải là sự gồng ép để trở nên cứng rắn, mà là lựa chọn duy nhất để tồn tại. Sau chiến tranh, cuộc đoàn tụ với vợ con tưởng chừng sẽ hạnh phúc. Ấy thế, nó lại tiếp tục phơi bày một mặt trái khác: chiến tranh không kết thúc khi tiếng súng dừng lại. Mười hai năm xa cách, đủ để một đứa trẻ không nhận ra cha mình. Người lính trở về không mang theo vinh quang hữu hình, mà mang theo thân thể gầy mòn và những khoảng trống không thể lấp đầy. Ở cụ, trưởng thành không đến từ chiến công, mà đến từ việc đi qua mất mát đến tận cùng mà vẫn không buông bỏ trách nhiệm với con người, với quê hương, với lịch sử. Trưởng thành mà không ồn ào, nhưng bền chắc như rễ cây bám sâu vào lòng đất sau bão lửa mới là sự trưởng thành tuyệt vời nhất.
LỜI KẾT: VẬY “ HOÀ BÌNH ĐÁNG GIÁ BAO NHIÊU?”, suốt bấy lâu tôi gặm nhấm chiến tranh bằng những dòng trăn trở: Làm thế nào một người trẻ có thể hình dung được nổi đau của một người lính? Khi cái giá phải trả không chỉ tuổi trẻ, mà còn là sinh mạng, ký ức và gia đình. Tôi đã từng đi qua những công trình sừng sững trong lòng đô thị, thứ hiện hữu trang nghiêm nhưng mỗi dòng bia đá lại khắc tên của hàng trăm chiến sĩ đã hy sinh. Hương nhàng khói mục ruỗng, chẳng ai biết đến dù nơi đó vẫn đang tồn tại. Vậy tuổi trẻ minh đang làm gì vậy? Điên cuồng, chấp vá những khát vọng vượt xa tầm với nhưng tâm hồn lại non nớt đến dại khờ. Tưởng nhớ, biết ơn không nên chỉ nói bằng lời, mả còn phải thực hiện bằng hành động cụ thể. Trước hết, hãy tìm kiếm lý do để mình tồn tại sau đó học tập, nỗ lực, rèn giũa bãn lĩnh để trưởng thành


