MẬT LỆNH GIẢI PHÓNG TRƯỜNG SA: CHỈ CÁN BỘ CÓ TRÁCH NHIỆM BIẾT
Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhận định: “Sự kiện Trung Quốc tiến công quân ngụy, đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa ở phía bắc ngày 20-1- 1974, càng cho thấy tầm chiến lược của những mảnh đất xa xôi, chập chờn trên sóng gió Biển Đông. Nhãn quan chiến lược quân sự của Bộ thống soái tối cao, đã nhìn rõ vấn đề. Cần tổ chức giải phóng kịp thời phấn đất này. Nếu chậm, để quân đội nước khác xâm chiếm nơi đây, tình hình sẽ rất phức tạp”.
Sau khi bàn bạc thống nhất với Quân ủy Trung ương và Tư lệnh chiến dịch Lê Trọng Tấn, 17 giờ 30 phút ngày 4-4-1975, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã ký bức bức “mật điện” số 990B/TK sau đó tốc chuyển đến đồng chí Võ Chí Công, Chính ủy Quân khu 5 và đồng chí Chu Huy Mân, Tư Lệnh Quân khu 5. Nội dung điện mật:
“Điện đặc biệt 4-4-1975 gửi Khu ủy và Bộ tư lệnh Khu V và Bộ tư lệnh Hải quân.
Theo chỉ thị của Bộ Chính trị, Thường vụ Quân ủy giao nhiệm vụ cho Khu ủy, Quân khu ủy và Bộ tư lệnh Khu V, Bộ tư lệnh Hải quân khẩn trương nghiên cứu kế hoạch tác chiến và tiến hành mọi công tác chuẩn bị để khi có thời cơ kịp thời giải phóng Quần đảo Trường Sa, coi đó là một nhiệm vụ rất quan trọng”.
Lực lượng giải phóng Trường Sa được thành lập lúc này quả là một đội hình “4 binh chủng… hợp thành” gồm: lực lượng thuộc trung đoàn đặc công 126, lực lượng của Tiểu đoàn Đặc công nước 471 (Quân khu 5) (đặc công), lực lượng thuộc tiểu đoàn 4, Trung đoàn 38, sư đoàn 2 (bộ binh), Quân khu 5, một bộ phận của Trung đoàn pháo binh 368 (số lượng ít), phối hợp với biên đội 3 tàu hải quân (vận tải) thành đoàn C75.
Khoảng 4 giờ ngày 11-4-1975, biên đội 3 tàu 673, 674, 675 (sau giải phóng Song Tử Tây bổ sung thêm tàu 641) của Đoàn 125 - Đoàn tàu Không số chở C75 bí mật rẽ sóng từ Đà Nẵng, thẳng tiến Trường Sa…


