Lúc đầu tôi cũng hơi lúng túng, nhưng sực nhớ mình truyền đạt chưa hết, tôi nói tiếp:
- Trong chỉ thị có ghi rõ: Phải ra gấp, đã lộ.
Lúc này đây, khi ngồi đối diện với anh tôi cảm nhận tâm trạng anh sao đồng điệu với tâm trạng tôi khi đọc xong chỉ thị của Trung ương: cúng xúc động và bàng hoàng.
Lắng đi một lát, anh hỏi tôi:
- Cậu đã có dự kiến kế hoạch đi trở ra chưa?
- Dạ! Báo cáo anh, tôi đã...
Anh kiên nghị hẳn lên và biểu dương liền: Như thế là tốt, nó biểu hiện tinh thần trách nhiệm nghiêm túc và tác phong năng động của một người chỉ huy. Bỗng anh cười vui và bằng một cử chỉ thân mật mà anh đã dành cho tôi trong lần gặp ở nhà khách Quân khu IV bàn chuyện trở ra.
- Tao tin mày, mày chuẩn bị kỹ để trình bày trong cuộc họp tỉnh ủy vào sớm mai hoặc sáng ngày mốt.
- Báo cáo anh, tôi hứa sẽ làm hết sức mình.
Có lẽ vì thời gian đã trở nên khẩn trương, cũng có thể anh tin ở tôi như anh vừa nói, nên anh không thông qua kế hoạch trờ ra mà tôi đã dự kiến.
Hai ngày sau đó một cuộc họp Tỉnh ủy được triệu tập do anh Bảy Hữu chủ trì. Tất cả có năm người trong Ban tỉnh ủy bí mật. Anh Bảy Hữu nói vắn tắt lý do buổi họp là để bàn kế hoạch thực hiện điện của Trung ương vừa đánh vào gọi gấp anh Bảy và tôi ra gấp ngoài đó có việc cần (Như thế là anh Hữu cũng rất cảnh giác. Anh nói điện của Trung ương từ Hà Nội đánh vào là để giữ bí mật việc để chỉ đạo phong trào đấu tranh của Khanh Hòa, và cũng là giữ kín nhiệm vụ liên lạc của tôi bấy lâu đã làm, vì trên thực tế công việc của tôi là do trực tiếp anh Bảy Hữu điều hành).
Nói lý do xong, anh quay sang tôi và giới thiệu: đồng chí Tư Cụ là cán bộ quân sự, có kinh nghiệm về tổ chức hành quân sẽ trình bày kế hoạch đi trở ra, đề nghị chúng ta chú ý theo dõi, góp ý kiến, làm cho kế hoạch hoàn chỉnh, đạt kết quả tốt trong thực hiện.
Không khí cuộc họp trầm lắng hẳn xuống sau khi nghe anh Bảy Hữu nói lý do. Tuy giờ phút chia tay chưa đến mà gương mặt những người họp đã hiện lên cái nét buồn lưu luyến của cả người ở lại và người trở ra. Tôi cũng đang trong tâm trạng như thế.
Không dựa vào sổ sách giấy tờ ghi chép trước mà bằng nhập tâm, tôi bắt đầu trình bay ba phương án:
- Một là, đi theo đường núi.
- Hai là, đi theo đường số 1.
- Ba là, đi theo đường biển.
Đi theo đường núi Trường Sơn thì an toàn nhưng rất xa, ít nhất phải ba tháng mới tới miền Bắc. Cái khó chính là lương thực ăn dọc đường, có khi không đủ sức mà ra tới đó.
Đi theo đường số 1, tuy gần nhưng quá nhiều khó khăn, nguy hiểm, trước hết là làm sao qua được các đồn bót địch và lưới mật vụ của địch nhan nhản trên đường.
Đi theo đường biển, tuy có cái khó về sông nước không lường, nhưng dù sao vẫn thuận lợi hơn, nếu như ta có phương tiện vượt biển tốt thì già lắm cũng một tháng có thể cặp bến cảng Cửa Tùng thuộc bờ bắc sông Bến Hải.
Đường nào cũng có cái khó, cái dễ. Nếu các anh hỏi tôi ưng cách nào thì tôi chọn phương án theo đường biển là tối ưu nhất. Riêng có ngày giờ xuất phát cụ thể thì như đã thống nhất với anh Bảy Hữu là không trình bày vì đây là vấn đề bí mật của bí mật.
Cuộc họp diễn ra trong thuận chiều, ít có vấn đề phải thảo luận. Anh Bảy Hữu sau khi hỏi, không thấy có ý kiến gì thêm, đã kết luận và giao nhiệm vụ cho những người có liên quan xúc tiến chuẩn bị. Anh nói: Để thực hiện được phương án này, đề nghị anh Ch. (tỉnh ủy viên cài cắm ở lại, không đi tập kết) am hiểu tình hình trong này nhiều hơn, quen nhiều cơ sở, ngay sau cuộc họp này về ngay Hòn Hèo cùng bàn với cơ sở của ta ở đó lo việc chuẩn bị thuyền và lương thực, ba ngày sau kể từ cuộc họp này, anh trở lại báo cáo kết quả, để trên cơ sở đó ta quyết định ngày giờ xuất phát cụ thể.
Ch. đón nhận nhiệm vụ với một vẻ tự giác và nghiêm túc. Ch. hứa quyết tâm làm bằng được. Chỉ cần hai ngày sau là sẽ có thuyền tốt, có lương thực thuốc men và cả nước ngọt dùng trên một tháng bảo đảm cho chuyến vượt biển của chúng tôi thắng lợi,
Sau cuộc họp, tôi đến nơi ở của anh Bảy Hữu. Thấy tôi, anh hỏi có gì cẩn bổ sung thêm? Tôi nói không có vấn đề nào bổ sung mà là báo cáo một kế hoạch hành quân hoàn toàn khác với kế hoạch đã thống nhất trong cuộc họp vừa rồi. Được anh khích lệ tôi lại sôi nổi báo cáo với âm lượng vừa đủ hai người nghe. Tôi nói kế hoạch hành quân theo đường biển chỉ là nghi binh thôi, dù sao qua vụ T. làm phản báo địch lên càn vây khu Đá Bàn khi đoàn ta vừa mới đặt chân đến đây là một bài học cảnh giác vẫn còn mới nguyên. Ta nói đi theo đường số 1 là cực kỳ nguy hiểm để càng đẩy địch vào cái bẫy chủ quan, đinh ninh là ta đi theo đường biển thật. Đường số 1, theo tôi là đường đi ngắn nhất. Vả lại đường này tôi đã đi mấy lần, đã làm quen với một số binh lính và sĩ quan nằm trong hệ thống đồn bót địch bố trí dọc đường, biết được cách đối phó khi có trục trặc xảy ra.Vì tôi và anh Bảy Hữu đã sống chết có nhau, cùng nhau qua bao thăng trầm trong những ngày đánh Pháp, nên sau khi nghe tôi trình bày, anh chỉ hỏi:
- Đi bằng cách nào, mày?
- Dạ! Đi theo phương thức họp pháp.
Tôi liền trình bày với anh nội dung của phương thức họp pháp ấy là: Anh đóng vai cha cố, tôi lấy thêm N.T và Nguyễn Sách đóng vai giáo dân để bảo vệ cha nếu có kẻ hành hung, nhưng về hình thức được xem như là các con chiên ngoan đạo đi rước “thầy” về làm lễ cho nhà thờ họ lẻ xa xôi. Vả lại N.T và Nguyễn Sách cũng có đủ căn cước họp pháp như căn cước của tôi và của anh.
Sau khi được anh chấp thuận tôi còn nói vui sở dĩ ta chọn cái thế hợp pháp kiểu này là tôi đã ngắm nhìn hình hài anh nếu anh mặc đồ lễ thì giống cha cố một trăm phần trăm, rất hợp với cái gu trong này đang thịnh hành đạo thờ Chúa mà gia đình họ Ngô là những tín đồ ngoan đạo nhất, đang nắm quyền thế ở miền Nam.
Về ngày giờ cụ thể, tôi đề nghị anh Hữu là sáng ngày kia lên đường, đi trước một ngày quy định Ch. lên Đá Bàn báo cáo kết quả công tác chuẩn bị. Như vậy ngày N chính thức sớm hơn một ngày so với ngày N nghi binh, để nếu đến ngày đó mà địch phát hiện thì ta đã đi xa, chúng có dăng lưới bủa vây thì đã muộn.
Đêm cuối cùng nằm ở Đá Bàn, mặc dầu đã rất tin tưởng ở kế hoạch nghi binh của mình nhưng chúng tôi vẫn chập chờn ngủ thức lẫn lộn. Tôi và anh Hữu cứ nhỏ to tâm sự hết chuyện này đến chuyện khác. Có lúc im lặng hồi lâu và thấy tôi thở dài thì anh Hữu lại lựa lời:
- Ta ra để ta lại vào và lần sau thì ở hẳn cho đến ngày thống nhất sẽ ra thăm miền Bắc một thể, - Anh trở mình quay sang phía tôi, ghé sát vào tai tâm sự tiếp - Súng đạn ta còn nguyên được cất giấu ở nhiều chỗ để lần trở lại thứ hai là ta có điều kiện dùng. Trước hết trang bị cho hơn một đại đội đặc công bí mật mà tụi bay đã tổ chức được để anh em có phương tiện trong hoạt động quân sự khi có chỉ thị của Đảng cho tiến hành đấu tranh vũ trang...
Nghe anh nói, tôi thấy cái buồn vợi đi và sự phấn chấn lại đến, quên cả mệt. Mặc dầu cách đây năm ngày tôi đã có cuộc gặp họp pháp với tất cả các thành viên trong đội công tác để nắm tinh hình, trao đổi nhiệm vụ và bàn nhiều về phương thức hoạt động khôn khéo, tuyệt đối tránh bộc lộ lực lượng. Con số hơn một đại đội đặc công cơ sở mà đội công tác đã tổ chức được kể từ ngày vào đến nay như thế là đáng khích lệ, trọng tâm bây giờ là phải củng cố, trước hết là phải thường xuyên coi trọng giáo dục chính trị cho anh em. Việc số anh em này muốn thoát ly hoạt động như vậy là tốt, nhưng cũng nhắc nhở anh em kiên trì, không nên nóng vội, mà phải chờ thời cơ, tích lũy lực lượng. Nhưng tôi vẫn thấy thế nào ấy nếu mai đây phải xa anh em, biết bao giờ trở lại. Và nếu khi trở lại thi chắc gì được trở về với chiến trường quê hương đã gắn bó cuộc đời mình ngay từ tuổi ấu thơ.
Ngày hôm sau, chờ mặt trời lặn, trời vừa tối là đoàn chúng tôi xuống núi, tập kết tại nhà cô Dã ở thôn Hà Thanh gần kề chân đèo Bánh ít (cô Dã là vợ của Ỷ - một đội viên tin cậy của đội công tác nhận nhiệm vụ trở lại). Theo kế hoạch, cô Dã đã chuẩn bị cho mỗi chúng tôi một cái bánh tễ (như bánh chè lam ngoài Bắc), mỗi cái nặng khoảng một cân làm lương khô ăn đi đường nếu không gặp và không tiện vào hàng quán.
Đêm nay, cái đêm mới thật hồi hộp làm sao! Mọi phương tiện cho chuyến đi hợp pháp đã đầy đủ đến mức hoàn hảo mà ai nấy vẫn cứ bồn chồn, thao thức. Kim đồng hồ chỉ đúng bốn giờ sáng là chúng tôi đã sửa soạn tư trang hành lý xong xuôi. Anh Bảy Hữu vừa in trong bộ quần áo kiểu cha cố màu đen quen thuộc, với mũ rộng vành bọc ka ki màu ghi sáng. Bộ râu quai nón không cạo mà chỉ chuốt tỉa chút xíu cho oai, cho đẹp. Nhìn cái dáng vẻ đích thực cha cố trăm phần trăm của anh, chúng tôi càng tin vào cái màn kịch mà anh sắm vai chính sẽ thành đạt. Còn chúng tôi thì lúc này vừa cười vui đến chảy nước mắt, vừa tập thử các đoạn đối thoại sẽ phải dùng trong suốt dặm đường để cho quen:
- Trình cha...
Công việc chuẩn bị xong xuôi, chúng tôi tạm biệt gia đình cô Dã lên đường khi đằng đông ửng hồng báo hiệu một ngày nắng nóng sắp sửa bắt đầu. Cuộc tạm biệt diễn ra âm thầm mà đậm đà tình cảm. Cô Dã sụt sùi khóc, nhưng vẫn ở trong nhà, không được ra khỏi cổng vì yêu cầu bí mật, vì để bảo đảm an toàn cho chúng tôi - những người ra đi, và gia đình cô - những người ở lại. Bốn anh em bốn xe đạp rong ruổi đi trên đường số 1 ra hướng Vạn Ninh.
Gió biển ban mai ừong lành thổi vào gây cho chúng tôi một cảm giác dễ chịu.
Thanh thản mà vẫn gợi buồn gợi nhớ. Nhớ quê hương và nhớ người thân, nhớ cô Hường, cô Lới. Xin hai cô hiểu cho nỗi lòng con. Không bao giờ con được quên hai cô, con xem hai cô như những người đồng đội của chúng tôi - tạm biệt hai cô trước lúc trở ra là do tình thế không cho phép, yêu cầu giữ bí mật. Rồi đây một tuần, một tháng sau đó, đồng đội của con sẽ lại tin cho cô hay. Tôi lại nhớ, nhớ đến da diết Phạm Đức Ỷ, Phạm Đăng Rơi, Lê Sâm, Phạm Sở, Nguyễn Hòa Hiệp, Lê Sơn Hổ, Nguyễn Xuân Kỳ, Đỗ Đức Rùa và Nguyễn Ba (chú ruột tôi) là những đồng đội ở lại tiếp tục hoạt động sẽ phải đương đầu với bao khó khăn. Đành rằng bản lĩnh những chiến sĩ mà tôi tin cậy, yêu mến sẽ vượt qua tất cả nhưng sao tôi vẫn cứ muốn cùng ở lại cùng các anh ghé phần vào những thăng trầm mà chắc chắn nó phải đến, vì cuộc chiến đấu của chúng ta với quân xâm lược và bè lủ tay sai là cuộc chiến đấu một mất một còn, cuộc đấu tranh giai cấp mà. Tôi lại thương, thương xót và căm thù khi được tin anh Lê Thanh Liêm, bí thư tỉnh ủy bí mật đã bám trụ, len lỏi đi các nơi chỉ đạo phong trào với bao gian khổ, đói cơm, kiệt sức phát bệnh đã mất tại căn cứ Khánh Sơn; anh Đặng Vinh Hàm, tỉnh ủy viên, cuối năm 1955 về Đồng Bò; anh Nguyễn Lưu, anh trai của nhà thơ Giang Nam, cùng quê Ninh Hòa với tôi, nguyên trưởng ty thông tin tuyền truyền tỉnh Khánh Hòa được cử ở lại bàn giao vùng ta quản lý cho đối phương xong, rồi cùng vợ là chị Tư về quê sống họp pháp đã bị địch ám hại hồi tháng 5 năm 1955... thì tình cảm trách nhiệm trong tôi càng trỗi dậy, thôi thúc tôi phải vô lại cùng đồng đội tôi tiếp tục sự nghiệp mà các anh đang làm dở...
Đắm mình trong nhưng suy tư miên man như thế, nên khi qua Đại Lãnh, cần phải chuẩn bị hơi sức để vượt đèo Cả mới hay là mình đã đi được một cung đường khá xa, không còn mấy chốc nữa là tạm biệt đất mẹ Khánh Hòa.
Xuống đến chân đèo Cả phía kia là thuộc đất Phú Yên, chúng tôi nghỉ lại ở một quán ăn bên đường để “xốc lại đội hình”, rửa mặt mũi chân tay cho sạch sẽ, sáng sủa; sửa lại quần áo cho phẳng phiu, thẳng nếp để từ đây trở đi chứng tỏ cho khách qua lại trên đường - nhất là qua các đồn bót địch, thấy rằng đây đúng là những con chiên của Chúa đang đi hành hương một cách đàng hoàng về noi đất “thánh” chứ không phải đi từ xa đến. Tôi ăn mặc giống chánh trương giàu có đi sóng đôi với cha; còn N.T và Nguyễn Sách giống như như tín đồ sùng kính, lúc nào cũng có thể “tử vì đạo” đi kế sau phục vụ cha. Cánh đồng Tuy Hòa đang hiện ra trước mặt, người đi lại trên đường tấp nập nhìn chúng tôi vừa có phần lãnh đạm, thờ ơ, vừa nể trọng qua đoán nhận anh Bảy Hữu là cha chánh hiệu, có học, sống đất thị thành đang hạ cô đi về các xứ họ xa để truyền giáo những điều Chúa phán khuyên được ghi trong Thánh kinh. .
Cái cảm thụ ngoại giới có chiều thuận lợi ấy khiến mọi người đều thanh thản trong đi tới. Khoảng xế chiều hôm ấy chúng tôi vừa tới đồn Vân Canh, thì bị lính gác ra ngăn không cho đi tiếp. Trong phương án hành quân có tính đến chuyện này nhưng không đặt thành vấn đề quan trọng, càng không nghĩ tới chuyện bị giữ lại vì tôi đã qua nơi đây nhiều lần, quen viên đồn trưởng và đã ba lần vô ngủ nhờ ở nơi đồn này.
Tuy sự việc xảy ra hơi đột ngột nhưng tôi vẫn rất bình tĩnh, đến gần tên lính gác nói vẻ hách dịch: Cho gặp đồn trưởng ngay! Vừa lúc đó đồn trưởng Hựu từ trong đồn đi ra. Tôi cúi chào hắn và chủ động bắt tay, rồi rứt thuốc là mời hắn. Chờ cho viên đồn trưởng rít một hơi khoan khoái từ từ phả hết khói ra khỏi cái miệng hơi rộng, tôi mới nói như trách móc:
- Sao lính gác lại giữ chúng tôi lại, thưa thiếu úy?
- Không được đi vì...
- Sao, thiếu úy nói sao? - Tôi tỏ vẻ ngạc nhiên hỏi.
Hựu rít tiếp hơi thuốc nữa, rồi băn khoăn thanh minh rằng không phải tại hắn, mà do noi cấp trên:
- Đây nè - hắn móc túi lấy ra một tờ giấy nhỏ đọc tiếp - Tỉnh trưởng Phú Yên lệnh gấp cho các ông đồn trưởng đóng dọc lộ 1 không cho bất cứ ai qua lại cho đến khi nào hủy lệnh này vì có bốn tên cộng sản Khánh Hòa đi ra phía ngoài nhưng chưa biết chúng theo ngả nào.
Tất cả chúng tôi đều giật mình, nhưng do được chuẩn bị trước nên ai cũng tỏ ra thản nhiên, bình tĩnh. Mọi việc đối phó, đoàn đã ủy nhiệm cho tôi lo liệu.
Địch sao lại biết nhanh và thông báo chính xác đến như vậy?
Bốn tên cộng sản trùng hợp với bốn “con chiên” của chúa. Viên đồn trưởng liệu có nghi ngờ cái con số bốn trùng hợp này, mặc dầu giữa tôi và hắn đã quen nhau, đã đôi lần nhậu nhẹt lai rai với nhau? Giờ đây chưa chắc phải lúc dò tìm nguyên nhân mà cái chính là cần thể hiện một thái độ, một cử chỉ, một sắc mặt ra sao để đẩy lùi được thái độ nghi ngờ của tên đồn trưởng. Anh Bảy Hữu vẫn rất đoàng hoàng từ tốn của một vị truyền giáo, anh hoàn toàn không nói, tỏ ra là người chỉ biết lo phần hồn, còn phần đời, phần xác đã có tôi. Anh đưa mắt nhìn tôi. Hiểu ý anh, tôi đưa mắt nhìn N.T, Nguyễn Sách, truyền tiếp cái chỉ thị của anh - phải thật tỏ ra bình thản - vai kịch đóng trong lúc này càng đạt bao nhiêu càng tạo điều kiện để tôi lo đối đáp vói tên thiếu úy, bề ngoài tỏ ra thơn thớt nói cười, phân bua, nhưng bên trong y có thể đang chăm chú theo dõi chúng tôi, không bỏ qua bất cứ chi tiết nào. Trước sự soi mói của địch, điều trước hết là anh em đừng để cho khuôn mặt mình mất sắc không được thua về tâm lý trước đòn cân não của chúng.
Tên Hựu ôn tồn mới chúng tôi lưu lại đồn để chờ lệnh trên và hắn không quên kiểm tra giấy tờ, hành lý. Không có gì khả nghi. Duy có điều mà hắn phân vân là trong mỗi gói bánh tễ của mỗi người có gì để ở trong ruột không? Đọc được ý nghĩ này của Hưu, tôi chủ động cầm chiếc bánh bẻ đôi, bẻ tư, bẻ sáu để chứng minh với đồn trưởng trong ruột bánh là không có gì, nó đích thực là tấm bánh thanh khiết của những tín đồ ngoan đạo dùng làm lương khô ăn khi nhỡ độ đường. Thực ra trong phần bánh tễ của tôi, trong ruột có đựng các huân chương được Nhà nước tặng thưởng.
Đả lường trước sự thể nên khi nắm, tôi để các huân chương đó ở một góc sát cạnh ngoài có đánh dấu, khi phải xử trí như thế này thì cứ thực hiện như trên đã nói, có điều là phải giành ngay quyền chủ động thuộc về mình, nếu để cho địch trực tiếp làm, chắc chắn là chúng phát hiện được.
Sau khi biểu diễn “xiếc” thành công, tôi lại gộp sáu miếng bánh ấy lại, nhào nắm như ta nắm cơm để sáu miếng kết dính liền thành một khối bánh vuông góc như cũ, gói lại để trong một cái túi trình trên đồn trưởng, được tên này hài lòng, tôi mang để nó vào noi tập trung hành lý của đoàn do đồn trưởng quy định. Làm như vậy cũng là để lường trước một sự biến khác, biết đâu rất có thể địch tò mò dở ra hoặc lấy cắp để ăn mà tình cờ phát hiện trong ruột bánh tễ của tôi có huân chương cộng sản thì tôi có cớ hợp pháp chối từ thẳng cánh, rằng trước đó tôi đã bẻ bánh thành sáu miếng riêng lẻ rồi cơ mà, đã được đồn trưởng chứng thực là trong bánh không có vật lạ, rằng có kẻ nào đó xấu bụng...
Sở dĩ có cái tình tiết rối rắm này, vì do tôi cho rằng những tấm huân chương mà Nhà nước tặng là kỷ vật thiêng liêng, là vật bất ly thân, nên khi được lệnh lên đường tôi bỏ nhiều thứ ở lại, để cho hành lý của mỗi người thật gọn nhẹ, chỉ riêng có cái khoản huân chương thì vẫn mang theo, cùng tôi trở ra miền Bắc.
Một ngày trôi qua!
Hai ngày trôi qua!
Ba ngày trôi qua, đến cái ngày mà tất cả chúng tôi phải sống trong một trạng thái cực kỳ căng thẳng, cái mệt mỏi về tâm trạng quả thực là đáng sợ, nhưng tuyệt đối không để cho địch tìm thấy tín hiệu là chúng tôi lo lắng, băn khoăn. Một cuộc hội ý chớp nhoáng kết thúc vào lúc mười lăm giờ. Tất cả đều nhất trí nếu ngày mai tức là bước sang ngày thứ tư vẫn bị giam lổng như thế này, thì tối đến đành bỏ lại tất cả xe đạp, hành lý, bí mật thoát khỏi nơi đây, thẳng lên phía tây rồi bám theo triền núi Trường Sơn mà đi tới. Thế nghĩa là chúng tôi buộc phải trở lại đi theo phương án một - cái phương án chỉ có nghĩa nghi binh, không được chuẩn bị điều kiện để thực hiện. Nhưng không còn con đường nào khác! Lẽ nào ta khoanh tay ngồi đây - nơi hang hùm miệng rắn để đón nhận tai họa đang đến gần. Trước mắt cứ thoát khỏi nơi đây, tới được bìa rừng. Vừa đi vừa tìm cây trái và củ rừng mà ăn để có sức đi.
Nhưng trước khi thực hiện kế hoạch táo bạo này, tôi tự nhú: Thử thể nghiệm một thủ thuật khác may ra có hiệu lực thì ta vẫn đi theo kế hoạch đã vạch. Ngay từ giờ làm việc buổi chiều, tôi tìm cách xáp vô đồn trưởng, chuyện trò bình thường với một vẻ mặt thật thản nhiên, coi cái việc bắt giữ, săn tìm cộng sản ấy cứ như chuyện trên trời dưới biển, chuyện của mấy ông chức quyền, không có liên quan, ảnh hưởng gì đến chúng tôi những tín đồ chỉ biết có Chúa với viên dồn trưởng chỉ như cái máy thừa hành. Vốn đã đôi lần chạm ly trước, thấy tôi hào phòng, chịu choi, nên khi ngỏ lời mời y đi nhậu, thì hắn nhận lời liền. Bữa nhậu hôm ấy quả thật là lai rai hết cỡ so với các lần gặp hắn trước đây. Nhưng tôi đã có cách chuốc hắn một cách kiềm chế, không để cho hắn say, như thế sẽ lỡ việc, mà ở trạng thái có say có tỉnh. Trên đường trở về đồn, tôi bắt đầu bằng chuyện tình cảm.
- Tôi quả thật có lỗi với thiếu úy! Đã qua lại đây nhiều lần, lại được thiếu úy ban cho ân huệ vô đồn ngủ qua đêm để tránh nguy hiểm. Vậy mà mãi hôm nay mới biết thiếu úy có ba bà với gần một tá sắp nhỏ (thực ra biết chuyện này từ lâu) - tôi thở dài và ân hận rồi lại tiếp tục với khẩu khí của người giàu sang - nếu bịết sớm gia cảnh khó khăn này tôi sẵn sàng kính biếu thiếu úy một ngân phiếu... nhưng hôm nay chỉ còn... - vừa nói tôi vừa móc túi lấy số tiền 2.000 đồng ấn vào tay hắn và nói - xin thiếu úy nhận đây là tấm lòng thành của tôi, một thương gia quê gốc Nha Trang.
Hựu cầm luôn và không quên lịch thiệp:
- Xin cám ơn sự đồng cảm của ông đối với gia cảnh của tôi!
Thế là cá đã cắn câu nhưng mồi còn nhỏ. Biết có thể làm ăn được, tôi lựa lời:
- Chu chà! Đã ba ngày sống ở đây rồi đó! - Tôi thở dài ngao ngán làm ra vẻ khách quan - Tôi tuy là rất khó chịu nhưng dù sao đã quen, duy chỉ có thầy cả (chỉ anh Bảy Hữu) thì đã sinh bệnh vì từ nhỏ đến giờ thầy đâu có thấy cảnh sống này bao giờ!
- Cha mắc bệnh gì? - Viên đồn trưởng hỏi lại với vẻ ngạc nhiên và có phần lo lắng.
- Vì ăn ở thế này, cha đâu có quen. Người đau bụng và bắt đầu đi kiết. Cứ như thế này tôi e bệnh tình của cha sẽ tăng lên và rất có thể lây lan ra cả khu đốn binh của thiếu úy, bệnh kiết ly mà! - Tôi cố tình nhấn thêm cái câu cuối này để tăng sự nghiêm trọng của vấn đề, đánh vào tâm lý sợ bệnh ly của y.
Tên thiếu úy bỗng sững lại có phần hoi xiêu lòng hỏi tôi: có cách nào vượt qua được không ông?
Tôi cũng đứng lại và tỏ vẻ đăm chiêu suy nghĩ kèm theo cả thở dài, lí nhí nói với mình: chà gay quá! (Tất nhiên là tôi có thể Bói ngay cái ý định tiếp theo đã được sắp xếp trong đầu, nhưng như thế không có lợi).
Cái yên lặng này trôi nhanh, tôi vẫn tiếp tục làm ra vẻ bị động để trình bày một thiển nghĩ cúng rất khách quan: Tôi biết việc không cho bất cứ ai đi xa là thiếu úy thi hành lệnh của trên. Nhưng nếu đi gần, chẳng hạn như cho phép chúng tôi đưa cha đến các nhà thờ quanh đây để cha có nơi ăn ở hẳn hoi, bệnh tình cắt giảm thì thiếu úy có thừa quyền ký giấy.
- Được! Cái đó thì tôi có quyền, - vừa nói viên thiếu úy vừa lấy giấy bút trong túi ra - để tôi viết liền cho ông ngay.
- Dạ cám ơn!
Hắn sắp sửa viết, tôi tiến công tiếp:
- Xin thiếu úy cứ ghi ngắn thôi, không cần dài. Chỉ nói là cho phép đi các nhà tờ, thế là đủ.
Đang say, say cái được tôi đối xử lịch thiệp, thả sức khi nhậu nhẹt; sau khi tôi đề cao quyền lực của một đồn trưởng, nên chẳng còn có thì giờ đâu mà nghĩ suy ỷ tứ lợi hại, hắn hoàn toàn ghi đúng như lời tôi đề nghị: Được phép đi các nhà thờ. Dưới ký tên thiếu úy đồn trưởng đồn Vân Canh: Nguyễn Đức Hựu.
Cuộc sống bao giờ cũng ưa cụ thể. Nhưng không phải bất cứ cái chung nào cũng không có tác dụng. Được phép đi đến các nhà thờ. Cái từ chung chung không xác định cụ thể một không gian nào đó giờ đây lại là một thuận lợi rất cơ bản đối với chúng tôi. Đi đến các nhà thờ có thể hiểu là các nhà thờ quanh phạm vi đồn Vân Canh, cũng có thể xa hơn. Trước mắt, chúng tôi có giấy tờ ra khỏi Vân Canh - nơi địch đang giam giữ. Chỉ cần phút giây khi chúng tôi ra khỏi đây, lúc đó bọn mật vụ có cho tên phản bội nào đó đến nhận diện để bắt chúng tôi thì đã muộn, có trời mà tìm. Còn ra khỏi Vân Canh đến bất cứ nơi nào tiếp sau đó, địch hỏì thì chúng tôi cứ chìa cái “bùa hộ mệnh” này ra mà lòe mà đấu càng nâng cái tầm quan trọng bao la của một phái đoàn truyền giáo, có quyền đi khắp miền Nam.
Cầm trong tay tờ lệnh, tôi cúi đầu lễ phép cám ơn đồn trưởng và binh thản cất nó tên túi áo sơ mi mặc trong, cài khuy cẩn thận mà tôi cứ sợ nó rơi, nó vô tình tuột khỏi nơi mình. Sờ lại lần nữa, thấy nó vẫn nằm kín trong túi ngực, tôi sung sướng muốn reo lên: Thằng ngốc ơi! Mày đã thả hổ về rừng. Nhưng tôi kiềm chế cái phấn khởi ấy lại, giữ nét mặt như chưa thỏa mãn để muốn xua tan cái gì khả nghi vẫn đang còn đọng lại trong đầu óc tên đồn trưởng, để cho công việc của chúng tôi được trót lọt.
Tôi đi nhanh về báo cáo với anh Hữu:
- Có giấy tờ rồi anh à!
- Giấy tờ gì?
- Anh đọc coi.
Anh Hữu đọc nhanh, mắt anh sáng lên, nhưng sau đó lại giữ dáng vẻ một vị linh mục đang bất bình vì cái chính quyền này xúc phạm người thay mặt “Chúa” quá nhiều. Song bên trong lại bật dậy tất cả cái tinh hòa của một đồng chí bí thư tỉnh ủy đã có nhiều kinh nghiệm hoạt động vùng địch hậu. Anh chỉ thị chuẩn bị sẵn sàng, sớm mai lên đường. Làm ra vẻ bất cần, đêm hôm ấy chúng tôi đi ngủ sớm, riêng thầy cả thì tiếng rên rầu rĩ càng được gia tăng để đánh vào cái lý cầu an sợ lây bệnh của viên đồn trưởng. Nói là ngủ sớm, nhưng chúng tôi ghé vào tai nhau, thì thầm căn dặn những điều rán chú ý ngày mai khi cuộc hành quân lại tiếp tục. Đoàn đường nằm trên vùng tự do của Liên khu V cũ, nên ngoài những vọng gác công khai ra, địch còn bố trí nhiều vọng gác bí mật, lẩn cả vào hành khách đi trên đường để theo dõi từng cử chỉ, nội dung nói chuyện của người đi trên đường, qua đó chúng có thể phát hiện ra ai là người dân, ai là cộng sản giả dạng. Vì thế tôi lưu ý mọi người là chấp hành nghiêm các quy định về nội dung nói chuyện trên đường. Chỉ được nói chuyện làm ăn, chuyện thờ Chúa, thỉnh thoảng tung màn khói sợ cộng sản nữa.
Qua mỗi bót gác, địch đều chặn và đòi xét giấy. Nhưng khi xem giấy có họ tên, cấp bậc, chức vụ của đồn trưởng Vân Canh cấp cho đi hành nghề tôn giáo, thì chúng tôi lại được trả lại giấy và lính gác cho đi ngay. Cứ thế đoàn chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình theo đúng kế hoạch đã vạch. Có hai lần vẫy xe nhà binh (quân đội ngụy) đều được họ cho đi nhờ. Chúng tôi vượt sông Bến Hải vào lúc trời nhá nhem tối, ngủ lại ở một nhà cơ sở, sáng mai đi thật sớm, tránh lộ liễu không cho ai biết chúng tôi từ bờ nam con sông này để trở ra Bắc.
Cuối tháng 2 năm 1956 chúng tôi ra tới Hà Nội. Anh Hữu trở về cơ quan Trung ương Đảng, tôi, N.T, Nguyễn Sách về lại tiểu đoàn 323 trước sự đón tiếp vồ vập của mọi người. Do chấp hành tốt nguyên tắc bí mật, anh em ở nhà đều coi chúng tôi là những người đi công tác xa trở về chứ không biết là chủng tôi vừa mới từ Khánh Hòa trở ra.
Cuối năm 1957, Phạm Đức Ý đến Xuân Mai thăm tôi. Đây là cuộc gặp gỡ mà cả hai người đều bất ngờ đến sửng sốt. Vừa chợt thấy, Ý đâ chạy đến ôm chầm lấy tôi, cứ thế sụt sùi khóc hoài khóc mừng thấy tôi vẫn còn sông. Còn tôi cũng vậy, hai mắt cứ ứa lệ vì được gặp lại Ý, người đồng đội chí cốt của mình đã từ Khánh Hòa lặn lội suốt một năm trời ròng mới ra được tới miền Bắc thân yêu.
Đêm hôm đó chúng tôi nằm chung một giường, chùm chung một chăn, thả sức hàn huyên. Qua Ý, được biết nguyên nhân chúng tôi bị địch giữ lại ba ngày ở đồn Vân Canh là do có sự phản bội của Ch., một tỉnh ủy viên được cử ở lại nằm vùng tiếp tục hoạt động sau Hiệp định Giơ-ne-vơ. Như trên đã kể cùng bạn đọc, trong cuộc họp tỉnh ủy ở căn cứ Đá Bàn để bàn kế hoạch tổ chức cho anh Bảy Hữu và tôi trở ra Bắc theo chỉ thị của Trung ương, Ch. được giao nhiệm vụ trở về Hòn Hèo lo phương tiện vượt biển cho chúng tôi. Ở cuộc họp, Ch. tỏ ra sốt sắng và hứa sẽ làm tốt nhiệm vụ được giao. Nhưng đây chỉ là một hành động giấu mặt, một cử chỉ lấy lòng, chứ thực tế thì y nhân cơ hội này đã thông đồng với địch một âm mưu “cất vó” chúng tôi. Song cái mưu đen đó đã thất bại (vì vượt biển chỉ là kế hoạch nghi binh), địch quay ra nghi ngờ những tin tức mà Ch. mật báo. Để chứng tỏ cái kiếp người làm chó săn, Ch. dẫn địch đến bắt Ý và chú Ba tôi mang về nhà lao giam giữ, đánh đập, tra tấn rất dã man, hòng tìm tung tích chúng tôi.
Nghe đến đây, tôi vừa buồn căm vừa mừng vui. Buồn căm vì trong hoạt động cách mạng đã không sàng lọc kỹ để cả hạt lép, hạt thối. Nhưng cũng thật mừng vui là đã chiến thắng với một kẻ địch nham hiểm. Đúng là trong lúc họp bàn, chưa ai nghĩ Ch. đã phản bội. Nhưng do ý thức cảnh giác đã trở thành tiềm thức, thành bản lĩnh của người chiến sĩ hoạt động độc lập ở vùng hậu địch đã nhắc nhở chúng tôi như một thói quen, một phản ứng tự nhiên mỗi khi hành động đều phải cân nhắc, phải ngó trước nhìn sau; kế hoạch hoạt động phải kín kẽ, dự liệu tất cả các tinh huống, các chiều thuận lẫn chiều nghịch của nó. Dũng phải có mưu thận trọng phải có quyết đoán là mối quan hệ không thể tách rời làm thành tư chất của mỗi chiến sĩ đặc công. Chính Ch. con chó săn lợi hại trong vụ việc này cũng hoang mang hơn ai hết, y không sao xác định được chúng tôi ra Bắc thật hay đây chỉ là tung tin hỏa mù để chúng tôi vẫn cứ ở trong này. Nếu chúng khẳng định chúng tôi đi theo đường số 1 thì chắc chắn chúng tôi không thoát khỏi đồn Vân Canh.
Nghe Ý kể, tôi càng mến thương và cảm phục tấm lòng son sắt, kiên trung của anh. Cái đêm trước khi lên đường, chúng tôi đã tập kết ở nhà Ý để chuẩn bị lần cuối. Ý biết rất rõ ngày giờ đường đi và cách thức đi của chúng tôi. Nhưng vì trách nhiệm rất cao với đồng đội, Ý ráng chịu đòn thù, giữ trọn lời thề danh dự của người chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam, đã không để lộ một tí gì về kế hoạch chúng tôi đi. Không khuất phục kẻ thù, Ý đã vượt ngục một mình thẳng hướng ra Bắc. Cuộc hành trình thật gian lao vất vả... Đói cơm, thiếu nước, lúc đi hợp pháp thênh thang trên các trục đường, lúc đi bất họp pháp chui lủi, cắt rừng, len lỏi băng qua các đồi cây lúp xúp ở vùng giáp ranh... Ý đã vượt qua tất cả để tìm về với đồng đội, tiếp tục nhận nhiệm vụ. Nãm 1965, ý cùng với lớp chiến sĩ đặc công thuộc thế hệ trẻ năng động vượt Trường Sơn trở lại chiến đấu ở mặt trận Tây Nguyên. Tại đây, Ý đã tỏ ra một chiến sĩ đặc công già dặn, có bản lĩnh để cùng với đồng đội đối mặt với quân thù. Và Ỷ đã hy sinh khi anh đang độ chín của một người chỉ huy có nhiều triển vọng. Tôi thực sự xức động khi được tin anh hy sinh, bởi không ai muốn có sự mất mát này! Nhưng tôi lại có quyền mãi mãi tự hào đã có một người đồng đội như anh - Phạm Đức Ý, cho đến giờ phút cuối cùng của đời mình vẫn gắn bổ với binh chủng trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước.
Binh chủng sẽ ghi công anh, đồng đội sẽ mãi nhớ anh - một trong những người đóng góp xứng đáng của mình vào sổ vàng truyền thống của Binh chủng Đặc công. |