Anh hùng Lực lượng vũ trang

"Mắt thần" trên đỉnh U Bò và người rạch màn nhiễu trắng vạch mặt B-52

Khắc họa bản lĩnh trí tuệ và những phát kiến táo bạo của người lính ra-đa đất Hưng Yên — Vũ Đức Chính. Từ sáng kiến "không tưởng" rã pháo, cõng máy lên đỉnh núi cao để bẻ gãy tai mắt giặc, đến kinh nghiệm "đọc vị" độ cao đầy thiên tài giúp khắc phục màn hình trắng xóa trước thủ đoạn gây nhiễu tinh vi của không quân Mỹ. Bài viết là bài ca trác tuyệt về một người lính thầm lặng đứng sau những chiến công bắn rơi "siêu pháo đài bay" B-52 của thế kỷ trước.

Quảng Trị09/06/2026Chi đoàn 10 Anh 24 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong cuộc đối đầu lịch sử với không lực Hoa Kỳ, chiến trường Khu 4 là vùng đất của lửa và máu, nơi đạn bom cày xới hòng cắt đứt mạch máu giao thông chi viện cho miền Nam ruột thịt. Giữa những năm tháng ngửa mặt lên trời canh giữ dải biên thùy đầy gió ấy, có một người lính ra-đa thầm lặng dùng trí tuệ lội ngược dòng sương gió, tìm ra những giải pháp kỹ thuật không tưởng để hồi sinh những "mắt thần" cho Tổ quốc. Ông là Vũ Đức Chính — người thợ sửa máy tài hoa đã ghi tên mình vào trang sử vàng của Binh chủng Ra-đa Việt Nam.

Người thợ đa tài xuyên rừng và ý tưởng "điên rồ" trên đỉnh núi cao

Vũ Đức Chính sinh năm 1940 tại mảnh đất nghèo xã Vân Du, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên (nay là xã Xuân Trúc). Năm 1960, vừa chạm ngưỡng tuổi hai mươi đẹp nhất, ông tình nguyện nhập ngũ. Sau một khóa học ngắn hạn về sơ cấp sửa chữa ra-đa, chàng lính trẻ được điều động về Trung đoàn 290, Binh chủng Ra-đa, nhận nhiệm vụ quản lý, bảo vệ vùng trời khốc liệt kéo dài từ phía nam cầu Hàm Rồng tới tận phía bắc đèo Hải Vân.

Những năm 60, không quân Mỹ điên cuồng trút bom nhằm xóa sổ các trận địa phòng không của ta. Số lượng thợ sửa chữa thì ít, trong khi máy móc của đơn vị bị giặc đánh hỏng liên tục. Vũ Đức Chính cùng đồng đội gần như không có khái niệm nghỉ ngơi. Cứ nhận lệnh là ông lại khoác ba lô, đi bộ ròng rã hàng chục cây số xuyên rừng để bám trạm. Bằng ý chí tự học phi thường, từ chỗ chỉ biết sửa loại ra-đa cảnh giới được dạy trong trường, ông tích lũy thực tiễn và làm chủ, sửa chữa thành công tất cả các dòng ra-đa có trong biên chế lúc bấy giờ.

Thời điểm ấy, phương tiện trinh sát của Mỹ cực kỳ hiện đại. Ta cứ di chuyển trận địa đến đâu là chúng đánh phá đến đó. Bản thân ông Chính đã nhiều lần thoát chết chỉ trong gang tấc khi trạm ra-đa trúng bom nổ tung ngay cạnh bên. Trăn trở trước xương máu đồng đội, ông nhận ra: Nếu tiếp tục bố trí ra-đa ở vùng đồng bằng, tầm quét sóng vừa bị che khuất mà giặc lại quá dễ phát hiện. Một ý tưởng táo bạo phát lộ trong đầu người thợ trẻ: Phải đưa ra-đa lên đỉnh núi cao!

Vào thời điểm đó, đây bị coi là một ý tưởng "điên rồ" và không khả thi. Ra-đa là một tổ hợp máy móc cồng kềnh, nặng nề và cực kỳ nhạy cảm. Để đưa lên đỉnh núi, người ta phải rã rời từng bộ phận, dùng sức người gùi cõng trèo qua những vách đá tai mèo hiểm trở, chỉ cần một va đập nhỏ cũng có thể khiến máy móc thành đống sắt vụn. Nhưng bằng sự nghiên cứu tỉ mỉ và quyết tâm sắt đá, Vũ Đức Chính đã thuyết phục được chỉ huy đơn vị.

Suốt một tháng trời ròng rã bám đá leo ngàn, những bước chân trần của người lính đã khuất phục đại ngàn. Trận địa ra-đa đầu tiên được dựng lên thành công trên đỉnh núi U Bò (thuộc địa bàn xã Bố Trạch, tỉnh Quảng Trị ngày nay). Ông Chính bồi hồi nhớ lại:

“Ngay khi đưa lên núi, hiệu quả hoạt động của ra-đa tăng lên rõ rệt. Chúng tôi có thể phát hiện máy bay Mỹ khi chúng vừa cất cánh ở căn cứ trên lãnh thổ Thái Lan và từ Hạm đội 7 ngoài Biển Đông. Rừng núi rậm rạp đã che chở cho máy móc, giặc Mỹ hoàn toàn mất dấu, không thể đánh phá”.

"Mắt thần" trên đỉnh U Bò hoạt động ổn định, kịp thời thông báo từ sớm, từ xa cho các mũi cao xạ, tên lửa của ta chủ động dàn trận, góp phần làm nên những chiến thắng oanh liệt tại Khe Sanh, Đường 9 - Nam Lào.

Rạch màn nhiễu trắng, vạch mặt "siêu pháo đài bay" B-52

Chiến công nối tiếp chiến công, khi đế quốc Mỹ tung quân bài chiến lược "siêu pháo đài bay" B-52 ra chiến trường, chúng áp dụng thủ đoạn gây nhiễu tinh vi chưa từng có. Ra-đa của ta phát ra tần số nào, các thiết bị điện tử trên máy bay Mỹ lập tức bắt được và phát ngược lại đúng tần số đó. Kết quả là trên màn hình hiện sóng của các trắc thủ ta hoàn toàn trắng xóa, như một tổ kiến lửa bò nhung nhúc, không thể định vị được mục tiêu.

Giữa cái "trắng xóa" nghẹt thở của màn hình ra-đa, Vũ Đức Chính lại một lần nữa dùng kinh nghiệm và tư duy sắc bén của người thợ để tìm ra ánh sáng. Ông nhận thấy việc đổi tần số liên tục là cần thiết nhưng chưa đủ để trị "đám giặc trời". Qua hàng nghìn giờ bám máy và đối mặt với các trận oanh tạc, ông rút ra một quy luật vàng về tầng cao của không quân Mỹ:

  • Từ 9km đến 11km: Chắc chắn là quỹ đạo bay của "siêu pháo đài bay" B-52.

  • Từ 5km đến 7km: Là tầm bay của các loại máy bay cường kích hộ tống.

  • Khoảng 4km: Là khu vực hoạt động của máy bay trinh sát tầm thấp.

  • Từ quy tắc xương máu này, ông hướng dẫn các trắc thủ kết hợp máy đo độ cao và kiên trì điều chỉnh cánh sóng thu một cách khéo léo để "gạt" lớp nhiễu dày đặc, bóc tách và định vị chính xác tọa độ của những chiếc B-52.

    Kinh nghiệm quý báu của Vũ Đức Chính lập tức được Trung đoàn 290 áp dụng để vạch mặt, diệt gọn B-52, sau đó được phổ biến nhanh chóng trong toàn lực lượng phòng không miền Bắc, trở thành một trong những cẩm nang cốt tủy giúp quân và dân ta làm nên một trận "Điện Biên Phủ trên không" vang dội năm 1972.

    Người thợ huyền thoại và sắc phong của đất nước

    Theo cuốn sách Đơn vị, cá nhân Anh hùng LLVT nhân dân và Anh hùng Lao động của Quân chủng Phòng không - Không quân, trong suốt những năm tháng kháng chiến chống Mỹ cứu nước, người thợ Vũ Đức Chính đã tự tay sửa chữa thành công gần 500 lần/chiếc cho các loại máy ra-đa khác nhau. Từ những dòng ra-đa sóng mét kinh điển (như II-10, 513K, 514, II-12, 406…) cho đến dòng ra-đa sóng cen-ti-mét cực kỳ phức tạp (II-35), dưới bàn tay và khối óc của ông, tất cả đều hồi sinh một cách thần kỳ để tiếp tục phát sóng giữ trời.

    Với những cống hiến đặc biệt xuất sắc và trí tuệ thăng hoa giữa lửa đạn, ngày 6-11-1978, đồng chí Vũ Đức Chính vinh dự được Đảng và Nhà nước trao tặng danh hiệu cao quý: Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

    Chiến tranh đã lùi xa, người lính ra-đa năm xưa nay đã trở về sống an yên tại quê nhà xã Xuân Trúc, tỉnh Hưng Yên. Nhưng mỗi khi cánh sóng ra-đa của Tổ quốc quét qua bầu trời yên bình hôm nay, những người lính trẻ vẫn thầm nhớ về người thợ già năm ấy — người đã từng cõng máy lên đỉnh núi cao, người đã rạch bầm màn nhiễu trắng để mang về mùa xuân hòa bình cho đất nước.

    Bạn cũng đang lưu giữ
    một câu chuyện lịch sử?

    Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

    Gửi câu chuyện của bạn