MẶT TRẬN ĐẠI ĐOÀN KẾT TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ
Sau Hiệp định Geneva 1954, đất nước tạm thời bị chia cắt. Miền Bắc trở thành hậu phương lớn, miền Nam tiếp tục cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.
Trên cương vị Chủ tịch Mặt trận Liên Việt rồi Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tôn Đức Thắng dành nhiều tâm huyết cho việc tập hợp nhân dân. Báo Nhân Dân ghi nhận ông thường xuyên đến thăm các đơn vị lực lượng vũ trang, công trường, nhà máy, hợp tác xã và cơ sở sản xuất để động viên nhân dân đóng góp sức người, sức của cho công cuộc xây dựng miền Bắc và đấu tranh thống nhất đất nước.
Tháng 3/1964, tại Hội nghị Chính trị đặc biệt do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì, Tôn Đức Thắng trình bày tham luận về việc động viên toàn dân thực hiện nhiệm vụ cách mạng. Ông nhấn mạnh sức mạnh đoàn kết của đồng bào cả nước và niềm tin vào ngày miền Nam được giải phóng, Bắc – Nam sum họp.
Những lời động viên ấy diễn ra trong bối cảnh chiến trường miền Nam ngày càng quyết liệt.
Đến năm 1965, Mỹ bắt đầu đưa quân chiến đấu trực tiếp vào miền Nam và mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc. Hậu phương phải vừa sản xuất vừa chiến đấu, đồng thời chi viện ngày càng nhiều cho tiền tuyến.
Trong hoàn cảnh ấy, Tôn Đức Thắng thể hiện một vai trò rất đặc biệt: kết nối ý chí của các tầng lớp nhân dân với nhiệm vụ chiến đấu.
Có thể coi đây là một “mặt trận” không có chiến hào nhưng có ý nghĩa chiến lược. Bởi một cuộc chiến tranh kéo dài không thể chỉ dựa vào sức mạnh quân sự. Nó cần sự đồng thuận xã hội, niềm tin và khả năng huy động nguồn lực của toàn dân.
Đó chính là lĩnh vực mà Tôn Đức Thắng đã dành nhiều năm hoạt động.

