Mặt trận lao tù ở miền Nam (1954-1975) (Kỳ 1)
Chính sách bắt bớ, tù đày của chính quyền Sài Gòn
Sau khi Hiệp định Geneva được ký kết, chính quyền Sài Gòn trắng trợn vi phạm Hiệp định, thay vào thực hiện Tổng tuyển cử, chúng đẩy mạnh càn quét, chiếm đóng, tăng cường bắt bớ, trả thù những người kháng chiến nhằm thực hiện âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta.
Từ giữa năm 1959, chính quyền Ngô Đình Diệm chính thức đặt Đảng Cộng sản ra ngoài vòng pháp luật, liên tục mở những chiến dịch tố cộng, diệt cộng, đàn áp, tiêu diệt những người cộng sản. Với phương châm “ bắt nhầm còn hơn bỏ sót”, chúng bắt giữ ồ ạt tất cả những người được xem là cộng sản hoặc có liên quan đến hoạt động cộng sản, chống “chính quyền quốc gia”.
Từ năm 1954 đến năm 1960 trên toàn miền Nam có 48.250 người bị bắt giam vì tội danh "cộng sản".
Khi Mỹ tiến hành các chiến lược Chiến tranh đặc biệt, Chiến tranh Cục bộ, Việt Nam hóa chiến tranh, đặc biệt là sau sự kiện Mậu Thân 1968, số lượng tù binh trong các trại giam tù binh tăng nhanh.
Theo văn bản số 3342/QP đề ngày 19/6/1972 của Bộ Quốc phòng gửi cho phủ Tổng thống chính quyền Sài Gòn, tính đến ngày 30/3/1972, tổng số tù binh tại các trại giam ở miền Nam Việt Nam là 35.871 người, giam giữ tại các trại Phú Quốc (26.411 người) và một số trại giam khác (Đà Nẵng: 1.504 người; Pleiku: 1.137 người; Cần Thơ: 2.748 người; Biên Hoà: 2.829 người; Quy Nhơn: 1.241 người).
Tại thời điểm tháng 7/1972, nhà tù Côn Đảo có 9.667 tù nhân, trong đó: Tù án: 4.237 (4 nữ); Câu lưu: 2.924 (313 nữ); Nghi can: 1.226.
Hiệp định Paris được ký kết, Mỹ rút quân đội về nước, công việc nội bộ do hai bên Việt Nam tự giải quyết, và cam kết thực hiện trao trả tù binh. Nhưng chính quyền Việt Nam Cộng hòa vẫn tiếp tục trì hoãn, thi hành không đúng với tinh thần Hiệp định.

Nhà lao Tân Hiệp, Biên Hòa (Ảnh tư liệu)
Theo Tờ Hải ngoại, số 25, (ra ngày 13/9/1973), tù nhân bị giam giữ tại các nhà tù, trại giam ở miền Nam, tính đến ngày 01/6/1973: Bốn trại giam đặc biệt, gồm 13.200 người (trong đó, Côn Sơn 8.200 người, Thủ Đức 1.500 người, Tân Hiệp 2.500 người, Đà Lạt 1000 người); 37 khám đường các tỉnh, giam khoảng 50.000 người và các nhà giam quận, xã giam cầm 68.000 người. Tổng số người bị giam giữ là 171.200.
Để phục vụ chính sách bắt bớ, đàn áp phong trào kháng chiến, chính quyền Sài Gòn triệt để khai thác, sử dụng các nhà tù, nhà lao, trại giam có sẵn từ thời Pháp và liên tục mở rộng, xây dựng các loại nhà tù, nhà lao, nhà đày, trại giam, nhà giam mới…, thiết lập một hệ thống nhà tù, trại giam từ cấp trung ương, vùng, miền, tỉnh, quận huyện, đến cấp xã.
Các nhà tù, trại giam giam cấp trung ương, vùng miền tập trung ở Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế, Côn Đảo, Phú Quốc, Buôn Ma Thuột, Đà Lạt. Trại giam Vùng I chiến thuật có Trại giam Đà Nẵng ở vùng Chợ Cồn, Non Nước, Ngũ Hành Sơn; Trại giam Vùng II chiến thuật thuộc tỉnh Pleiku; Trại giam ở Vùng III chiến thuật được xây dựng ở Hố Nai (Biên Hoà) đều được xây dựng và đưa vào sử dụng năm 1966. Trại giam Vùng IV chiến thuật có Trại giam Trà Nóc ở Cần Thơ và Trại giam tù binh Phú Tài, Quy Nhơn (Bình Định), hoàn thành và sử dụng năm 1967. Riêng Trại giam Phú Tài chủ yếu giam tù binh nữ, là cán bộ, chiến sĩ bị bắt ở các chiến trường Tây Nguyên, Quảng Ngãi, Bình Định v.v. Nhà tù, trại giam cấp tỉnh được xây dựng ở 44 tỉnh lỵ miền Nam[1].
Trong đó, có những nhà tù, trại giam, nhà lao lớn, nổi tiếng là “địa ngục trần gian” như Côn Đảo, Phú Quốc, Chí Hòa, Tân Hiệp…Nhà tù Côn Đảo thường xuyên giam giữ trên dưới 10.000 tù chính trị, nổi tiếng với chế độ “chuồng cọp” bị phát giác năm 1970. Trại giam tù binh cộng sản Việt Nam ở Phú Quốc tồn tại trong 6 năm (tháng 7/1967 đến tháng 3/1973), “là nơi Mỹ - Ngụy đã giam giữ hơn 40.000 chiến sĩ cách mạng, có hơn 4.000 người đã chết vì tra khảo, đánh đập với hơn 45 kiểu tra tấn từ thời trung cổ đến hiện đại, trắng trợn nổ súng với các khu giam hủy diệt người tù”[2].
Nhà tù Tân Hiệp, giữa năm 1955, được cải tạo, mở thành một trong sáu nhà tù lớn ở miền Nam với cái tên mị dân là “Trung tâm huấn chính Biên Hòa”, nhằm phân loại và cải tạo tư tưởng những người cộng sản, người yêu nước và kháng chiến cũ. Nhưng thực chất đây chính là một địa ngục khổng lồ xây dựng trên một địa ngục của những người đã chết, là nơi giam giữ những người cộng sản, yêu nước, cách mạng.
Giữa nơi “địa ngục trần gian”, những chiến sĩ cách mạng bị bắt, tù đày phải đối mặt với vô vàn thủ đoạn tra tấn tàn bạo, dã man, đê hèn của kẻ thù như lao động khổ sai, nhục hình, đói khát, bệnh tật,... với mục đích làm nhụt tinh thần yêu nước, ý chí đấu tranh, thủ tiêu những người yêu nước, cách mạng mà nòng cốt là các chiến sĩ cộng sản; triệt phá các tổ chức Đảng trong các nhà tù, trại giam. Nhưng tù đày không giam được khối óc, trái tim người cộng sản. Vượt qua nỗi đau về thể xác, khủng bố tinh thần, những chiến sĩ cách mạng bị bắt, tù đày vẫn giữ vững ý chí chiến đấu, giữ vững phẩm chất của người đảng viên cộng sản. Các tổ chức Đảng trong tù được thành lập, thực hiện phương châm “biến nhà tù đế quốc thành trường học cách mạng”, tổ chức, lãnh đạo đảng viên, quần chúng rèn luyện chí khí, bền bỉ đấu tranh với niềm tin bất diệt vào sự lãnh đạo của Đảng và đóng góp quan trọng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến.



