Mặt trận lao tù ở miền Nam
Chính sách bắt bớ, tù đày của chính quyền Sài Gòn
Sau khi Hiệp định Geneva được ký kết, chính quyền Sài Gòn trắng trợn vi phạm Hiệp định, thay vào thực hiện Tổng tuyển cử, chúng đẩy mạnh càn quét, chiếm đóng, tăng cường bắt bớ, trả thù những người kháng chiến nhằm thực hiện âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta.
Từ giữa năm 1959, chính quyền Ngô Đình Diệm chính thức đặt Đảng Cộng sản ra ngoài vòng pháp luật, liên tục mở những chiến dịch tố cộng, diệt cộng, đàn áp, tiêu diệt những người cộng sản. Với phương châm “ bắt nhầm còn hơn bỏ sót”, chúng bắt giữ ồ ạt tất cả những người được xem là cộng sản hoặc có liên quan đến hoạt động cộng sản, chống “chính quyền quốc gia”.
Từ năm 1954 đến năm 1960 trên toàn miền Nam có 48.250 người bị bắt giam vì tội danh "cộng sản".
Khi Mỹ tiến hành các chiến lược Chiến tranh đặc biệt, Chiến tranh Cục bộ, Việt Nam hóa chiến tranh, đặc biệt là sau sự kiện Mậu Thân 1968, số lượng tù binh trong các trại giam tù binh tăng nhanh.
Theo văn bản số 3342/QP đề ngày 19/6/1972 của Bộ Quốc phòng gửi cho phủ Tổng thống chính quyền Sài Gòn, tính đến ngày 30/3/1972, tổng số tù binh tại các trại giam ở miền Nam Việt Nam là 35.871 người, giam giữ tại các trại Phú Quốc (26.411 người) và một số trại giam khác (Đà Nẵng: 1.504 người; Pleiku: 1.137 người; Cần Thơ: 2.748 người; Biên Hoà: 2.829 người; Quy Nhơn: 1.241 người).
Tại thời điểm tháng 7/1972, nhà tù Côn Đảo có 9.667 tù nhân, trong đó: Tù án: 4.237 (4 nữ); Câu lưu: 2.924 (313 nữ); Nghi can: 1.226.
Hiệp định Paris được ký kết, Mỹ rút quân đội về nước, công việc nội bộ do hai bên Việt Nam tự giải quyết, và cam kết thực hiện trao trả tù binh. Nhưng chính quyền Việt Nam Cộng hòa vẫn tiếp tục trì hoãn, thi hành không đúng với tinh thần Hiệp định.



