Mặt trận Vị Xuyên – lò vôi thế ký giai đoạn 1984-1989.
Thương binh trực tiếp tham gia vào mặt trận Vị Xuyên – lò vôi thế ký giai đoạn 1984-1989
Câu chuyện được kể lại bởi bác Hoàng Văn Lan, sinh năm: 1966, là thương binh trực tiếp tham gia vào mặt trận Vị Xuyên – lò vôi thế ký giai đoạn 1984-1989.
Năm đó, bác vừa tròn 18 tuổi thì nhận giấy gọi nhập ngũ. Còn trẻ lắm, chưa kịp hiểu hết chiến tranh là gì, chỉ nghĩ đơn giản: Tổ quốc gọi thì mình đi. Thế rồi khoác balô trên vai, bác rời nhà, rời cha mẹ, bước vào đời lính. Bác được phân công vào Đại đội 1 - Tiểu đoàn 4 - Trung đoàn 153 - Sư đoàn 356. Sau khi được phân công bác cùng các đồng đội được đưa lên mặt trận Vị Xuyên. Đặt chân tới nơi, bác mới hiểu thế nào là chiến trường thực sự. Núi đá dựng đứng, đất trời lúc nào cũng mịt mù khói pháo. Ngày nào cũng nghe tiếng nổ, quen đến mức nhiều lúc tưởng như tim mình cũng nổ theo. Nói thật với các cháu, sợ lắm. Không chỉ bác sợ, mà nhiều người sợ đến mức bỏ ngũ, trốn về. Có người không chịu nổi cảnh pháo dội suốt ngày đêm, không chịu nổi việc sáng còn ngồi ăn với nhau, chiều đã không thấy mặt nữa. Những người trên đường trốn về có người bị bắt lại phạt đeo biển ghi chữ “Ai cũng như tôi thì mất nước” vào cổ rồi bắt đi khắp làng cho bà con nhân dân cười chê, có người bỏ trốn thì nhà bị phạt nộp con trâu, con bò để xung quỹ. Chiến trường Vị Xuyên năm ấy khốc liệt đến mức, lòng người nếu không vững thì không thể bám trụ lại được.
Bác được giao nhiệm vụ bảo vệ điểm đặt pháo. Ban ngày, chiến trường vắng lặng đến rợn người, không thấy một bóng ai. Núi rừng im phăng phắc, chỉ có gió thổi qua đá. Nhưng cứ đến chiều tối, như có hẹn trước, quân địch bắt đầu bắn phá vào những điểm đánh dấu mà chúng nghi là có người và vũ khí của ta ở đó. Pháo rít lên, đất đá tung trời, khói bụi mù mịt đến nỗi mở mắt ra cũng khó. Quân ta cũng bắn phản đòn, trời đất rung chuyển, đêm sáng lên bởi lửa pháo.Có những đêm bác nằm ép sát xuống hầm, đầu óc trống rỗng, chỉ cầu mong qua được đêm nay. Được mấy ngày thì bác bị thương do ảnh hưởng của pháo. Bác được rút khỏi vị trí chiến đấu, chuyển về làm công tác hậu cần, lo cơm nước cho cán bộ chiến sĩ. Khi bị thương bác cũng không dám viết thư về kể cho gia đình sợ bố mẹ ở nhà lo, mãi đến khi đồng đội bác ở gần nhà viết thư tay về cho gia đình kể “thằng Lan nó bị thương rồi…” thì gia đình bác mới hay tin bác bị thương. Khi ấy bố mẹ bác lo lắm, bắt xe lên đơn vị thăm bác ngay nhưng cũng chả gặp được bác vì bác được điều chuyển đến địa điểm lo công tác hậu cần rồi. Nói là hậu cần, nhưng chiến tranh thì ở đâu cũng nguy hiểm. Nhiều lúc đang nấu cơm, pháo vẫn rơi gần đó. Nhưng ít ra, bác còn được sống, còn được thấy anh em ăn bữa cơm nóng trước khi ra trận. Thế cũng là một niềm an ủi. Rồi sau khi thắng lợi được trở về nhà bác mới thấy mình may mắn hơn nhiều đồng đội của bác không thể trở về được nữa. Giờ đây, khi chiến tranh đã kết thúc, đất nước đã giành được hòa bình nhưng khi nghĩ lại những ngày tháng còn ở chiến trường bác vẫn thấy sợ, thấy buồn vì bản thân phải chứng kiến quá nhiều sự hy sinh, quá nhiều đồng đội của mình đã phải ngã xuống để bảo vệ quê hương, đất nước. Có những người cùng tuổi bác còn chưa kịp gửi lá thư nào về cho gia đình. May mắn hơn nhiều đồng đội vì còn được trở về với gia đình nhưng vẫn còn đó là vết thương ở đầu. Trái gió trở trời là đau nhức, đầu óc nhiều khi nhớ nhớ quên quên, có chuyện mới hôm qua mà hôm nay đã không nhớ rõ. Đó là dấu vết chiến tranh theo bác đến tận bây giờ. Hôm nay, bác kể lại câu chuyện này không phải để khoe mình từng ra trận, càng không phải để các cháu sợ hãi. Bác chỉ muốn nhắc các cháu đoàn viên thanh niên ghi nhớ rằng: Hòa bình hôm nay không phải tự nhiên mà có, nó được đánh đổi bằng máu, nước mắt và tuổi xuân của biết bao người trong đó có những người mãi mãi nằm lại Vị Xuyên, không bao giờ trở về được nữa. Các cháu được sống trong hòa bình, được học hành, mơ ước, thì hãy ghi nhớ công ơn của những người đã ngã xuống, sống cho xứng đáng, sống có trách nhiệm với đất nước.Đó là điều khiến những người lính như bác, dù đau đớn, dù thiệt thòi, vẫn thấy đáng.



