Cựu chiến binh

MÀU ÁO TRẮNG NƠI XÓM THÔN ĐẤT HẠN – XÂY DỰNG MẠNG LƯỚI Y TẾ NINH PHƯỚC VÀ CÁC PALEI CHĂM (1985 – 1990) DƯỚI GÓC NHÌN ĐỒNG CHÍ TRẦN THANH SƠN

Khánh Hòa30/09/2026Phạm Thanh Mân ((NT) Xã Ninh Phước)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong tâm khảm của người cán bộ cách mạng Trần Thanh Sơn, đi qua những năm tháng bom đạn khốc liệt ở chiến trường Tây Nam và làm nghĩa vụ quốc tế tại Campuchia, nơi người lính phải đối mặt với sốt rét rừng và vết thương chiến tranh, tôi luôn thấm thía một chân lý: Một xã hội ấm no không chỉ đo bằng hạt thóc trong bồ hay đồng tiền mặt trong túi, mà trước hết người dân phải có một cơ thể khỏe mạnh, lành lặn.

Sau mốc son năm 1985, khi 17 làng Chăm hoàn thành hợp tác hóa và sản lượng lúa đạt 420 kg/người/năm, cái đói cơ bản được đẩy lùi. Nhưng bước vào giai đoạn 1986 – 1990, khó khăn chuyển sang một dạng thức mới: đất nước lạm phát cao, vật tư cạn kiệt, thuốc kháng sinh và bông băng quý như vàng. Ninh Phước lại là vùng nắng rát, nhiều đồi cát, rừng khộp và chuột đồng – mảnh đất màu mỡ cho sốt rét và dịch hạch rình rập.

Nếu không có sự hy sinh thầm lặng của đội ngũ cán bộ y tế huyện nhà, không có những bàn chân y tá lặn lội đến từng ngõ xóm, từng palei Chăm, thì thành quả của hạt lúa, giàn nho khó lòng giữ vững được sinh lực cho dân làng.

1. Mạng lưới y tế chân rết: Đưa thầy thuốc về tận gốc rễ Hợp tác xã và Làng Chăm

Chuyển biến mang tính đột phá nhất của y tế Ninh Phước trong những năm đầu Đổi mới là việc phá vỡ lối làm việc hành chính quan liêu, đưa y tế về tận nơi quần chúng lao động:

  • Mô hình y tế tại chỗ ở các làng Chăm:

  • Ngay tại 17 làng Chăm và các HTX nông nghiệp, ngành y tế huyện phối hợp cùng Ban Quản trị HTX bố trí lực lượng y tá cơ sở bám sát địa bàn.

  • Họ vừa là người trực tiếp tham gia lao động, vừa nắm chắc từng hộ gia đình: ai ốm đau, sản phụ nào sắp sinh, nhà nào có người sốt cao đều được sơ cứu kịp thời ngay tại thôn xóm mà không phải vượt đường xa lên huyện.

  • Trục đỡ 13 trạm xá xã:

    • Toàn huyện duy trì phân bổ cán bộ phụ trách Bệnh viện huyện và 13 trạm xá xã.

  • Mỗi trạm xá xã đều có y sĩ hoặc bác sĩ trực tiếp cắm chốt làm trưởng trạm, thực hiện nhiệm vụ khám bệnh thông thường, đỡ đẻ an toàn và đóng vai trò "chốt chặn" phân loại bệnh nhân trước khi chuyển viện tuyến trên.

  • 2. Vượt khó giữ vững đội ngũ 131 cán bộ và xây dựng cơ sở trọng điểm

    Giữa thời kỳ kinh tế đất nước khủng hoảng nghiêm trọng, nguồn lực ngành y tế Ninh Phước được tập hợp và bố trí hết sức khoa học:

    • Tập hợp 131 cán bộ công nhân viên y tế:

    • Toàn ngành quy tụ được 131 cán bộ, nhân viên, trong đó nòng cốt là 38 y sĩ, bác sĩ được đào tạo bài bản.

  • Đồng lương thời bao cấp và đầu Đổi mới còn eo hẹp, bữa ăn nhiều khi phải độn khoai sắn, nhưng đội ngũ y bác sĩ vẫn giữ vững y đức của người thầy thuốc cách mạng, bám viện, bám trạm ngày đêm túc trực bên giường bệnh.

  • Chi viện hạ tầng cho Bệnh viện huyện và Trạm y tế Phước Sơn:

    • Tranh thủ sự quan tâm và chi viện nguồn lực từ Ty Y tế tỉnh Thuận Hải, huyện đã tập trung đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất cho Bệnh viện Đa khoa huyện.

  • Đặc biệt, tại xã Phước Sơn – vùng đất trung tâm chuyên canh thuốc lá và lúa của huyện, nơi tập trung đông đảo bà con lao động – Trạm y tế xã đã được tỉnh và huyện đầu tư xây dựng khang trang, trang bị tủ thuốc, giường bệnh tiêu chuẩn, trở thành mô hình trạm y tế mẫu mực cho toàn khu vực đồng bằng.

  • 3. Mặt trận phòng ngừa và chiến quả 19 vạn lượt khám bệnh (1986 – 1988)

    Với phương châm "Phòng bệnh hơn chữa bệnh", ngành y tế Ninh Phước đã phát huy cao độ tinh thần tự lực cánh sinh để chăm sóc sức khỏe nhân dân:

    • Chủ động đánh chặn dịch hạch và sốt rét:

    • Ninh Phước có diện tích bãi bồi, ruộng lúa và rừng gò đồi xen kẽ, mật độ chuột đồng cao, nguy cơ bùng phát dịch hạch là mối đe dọa thường trực. Cùng với đó là sốt rét từ các vùng bán sơn địa Nhị Hà, Phước Hà tràn xuống.

  • Ngành y tế tích cực triển khai các đợt tiêm chủng định kỳ, tổ chức các đội lưu động phun thuốc diệt muỗi, tẩm màn, phát bả diệt chuột và rắc vôi bột tiêu độc khử trùng khắp các chuồng trại chăn nuôi bò, cừu tại các palei.

  • Chiến quả chăm sóc sức khỏe phi thường:

    • Dù thiếu thốn từng viên thuốc cảm, chai dịch truyền, trong 3 năm (1986 – 1988), mạng lưới y tế toàn huyện đã:

    • Tổ chức khám bệnh và cấp phát thuốc cho 190.354 lượt người (con số vượt cả quy mô dân số huyện thời điểm đó, phản ánh tần suất chăm sóc y tế rất cao).

  • Tiếp nhận điều trị nội trú an toàn tại bệnh viện huyện cho 10.938 bệnh nhân.

  • Kéo giảm tỷ lệ tăng dân số tự nhiên xuống 2,1%:

    • Tập quán sinh nhiều con của đồng bào nông thôn và các palei Chăm từng là rào cản lớn đối với bài toán thoát nghèo.

  • Đội ngũ y tế đã kiên trì "đi từng ngõ, gõ từng nhà", tuyên truyền vận động được 2.069 người áp dụng các biện pháp sinh đẻ có kế hoạch (đặt vòng, dùng biện pháp tránh thai).

  • Thành quả mang lại hết sức ý nghĩa: tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của huyện từ mức cao năm 1986 đã giảm vững chắc xuống còn 2,1% vào năm 1988 (kéo giảm 0,4%), giúp giảm tải gánh nặng lương thực và chăm sóc y tế.

  • 4. Sự phối hợp của Hội Chữ thập đỏ: Cánh tay nối dài của y tế nhân dân

    Sức mạnh của ngành y tế giai đoạn này được nhân lên gấp bội nhờ sự vào cuộc nhịp nhàng của các đoàn thể quần chúng, tiêu biểu là Hội Chữ thập đỏ:

    • Mạng lưới 49 chi hội với gần 1,2 vạn hội viên:

    • Đến năm 1988, toàn huyện đã xây dựng và củng cố được 49 chi hội Chữ thập đỏ từ cơ quan, trường học đến tận các thôn xóm, tập hợp tới 11.963 hội viên.

  • Phong trào vệ sinh phòng bệnh từ cơ sở:

    • Lực lượng hội viên Chữ thập đỏ chính là những tuyên truyền viên tích cực nhất trong việc vận động nhân dân ăn chín uống sôi, đào hố rác hợp vệ sinh, không thả rông gia súc dưới gầm nhà sàn ở các làng Chăm.

  • Hội tham gia sơ cấp cứu ban đầu, hỗ trợ thuốc men cho các gia đình thương binh, liệt sĩ, hộ nghèo neo đơn, biến công tác chăm sóc sức khỏe thành phong trào tự giác của toàn xã hội.

  • BẢNG TỔNG HỢP CÔNG TÁC Y TẾ HUYỆN NINH PHƯỚC (1985 – 1990)

    Tiêu chí hoạt động

    Kết quả & Chỉ số cụ thể

    Ý nghĩa lịch sử & Đóng góp xã hội

    Tổ chức mạng lưới

    Y tá cắm chốt tại 17 làng Chăm/HTX; y sĩ, bác sĩ phụ trách 13 trạm xá xã

    Đưa dịch vụ y tế về tận gốc rễ cộng đồng; khám chữa bệnh kịp thời tại chỗ

    Quy mô lực lượng

    131 cán bộ công nhân viên, nòng cốt là 38 y, bác sĩ

    Lực lượng chuyên môn vững vàng, bám cơ sở giữa thời kỳ khủng hoảng kinh tế

    Cơ sở hạ tầng

    Tỉnh chi viện đầu tư Bệnh viện Đa khoa huyện và Trạm y tế xã Phước Sơn

    Từng bước kiên cố hóa hạ tầng khám chữa bệnh; Phước Sơn thành hình mẫu cơ sở

    Hoạt động điều trị (1986 – 1988)

    Khám, cấp thuốc cho 190.354 lượt người; điều trị nội trú 10.938 bệnh nhân

    Bảo vệ trọn vẹn sinh lực lao động của nhân dân trong giai đoạn chuyển đổi cơ chế

    Y tế dự phòng & Dân số

    Phun thuốc diệt muỗi, phòng dịch hạch, sốt rét; vận động 2.069 người KHHGĐ

    Kéo giảm tỷ lệ tăng dân số tự nhiên xuống 2,1% năm 1988 (giảm 0,4%)

    Phối hợp xã hội

    49 chi hội Chữ thập đỏ với 11.963 hội viên (năm 1988)

    Xã hội hóa y tế; xây dựng nếp sống vệ sinh khoa học trong các xóm thôn, palei

    Ý NGHĨA LỊCH SỬ BẤT TỬ

    Nhìn lại chặng đường 1985 – 1990 của ngành y tế huyện Ninh Phước, người cán bộ cách mạng Trần Thanh Sơn luôn khẳng định:

    Đó là bản anh hùng ca về sự tận tụy, lòng nhân ái và tinh thần trách nhiệm trước Nhân dân của Đảng bộ và đội ngũ y bác sĩ áo trắng:

    1. Chỗ dựa vững chắc của người lao động trong thời kỳ Đổi mới: Giữa lúc nền kinh tế trải qua lạm phát dữ dội, việc ngành y tế giữ vững trận địa khám chữa bệnh cho hơn 19 vạn lượt người nghèo chính là minh chứng sống động nhất cho bản chất nhân văn của chế độ ta: không để ai bị bỏ lại phía sau vì đau ốm, bệnh tật.

  • Củng cố vững chắc lòng tin của đồng bào Chăm: Việc bố trí y tá cắm chốt tại từng palei, trân trọng và chăm sóc sức khỏe từng người dân Chăm đã xóa bỏ hoàn toàn những hủ tục mê tín thầy mo, cúng bái trừ tà khi có bệnh. Đồng bào hiểu rằng chỉ có y học cách mạng của Đảng mới thực sự cứu chữa được mạng sống con người.

  • Bệ phóng hoàn thiện mạng lưới y tế chuẩn quốc gia sau năm 1992: Sự bền bỉ của 131 cán bộ y tế giai đoạn 1985 – 1990 chính là nền móng vô giá để sau ngày tái lập tỉnh Ninh Thuận (01/4/1992), huyện Ninh Phước tự tin bước vào thời kỳ mới: xây dựng trạm y tế chuẩn quốc gia tại 100% các xã, hoàn thành phổ cập tiểu học gắn với y tế học đường, đưa 17 làng Chăm trở thành 17 Làng Văn hóa toàn diện trước thềm thế kỷ XXI.

  • Bạn cũng đang lưu giữ
    một câu chuyện lịch sử?

    Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

    Gửi câu chuyện của bạn
    MÀU ÁO TRẮNG NƠI XÓM THÔN ĐẤT HẠN – XÂY DỰNG MẠNG LƯỚI Y TẾ NINH PHƯỚC VÀ CÁC PALEI CHĂM (1985 – 1990) DƯỚI GÓC NHÌN ĐỒNG CHÍ TRẦN THANH SƠN | Câu chuyện thời hoa lửa