Màu áo xanh nơi biên cương
Lịch sử không chỉ nằm trong những trang sách mà còn hiện diện trong ký ức của những người đã sống, cống hiến và trưởng thành qua những năm tháng gian khó của đất nước.

ĐỀ ÁN • CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA
MÀU ÁO XANH
NƠI BIÊN CƯƠNG
Ký ức của người lính biên phòng qua lời kể của ông ngoại em
Ông Phan Văn Lý bên cột mốc biên giới Việt Nam
Người sưu tầm và kể lại: Lê Bảo Trâm
Học sinh lớp 5A6 – Trường Tiểu học Ninh Hiệp
Nhân chứng: Ông Phan Văn Lý (ông ngoại của em)
Sinh năm 1968 • Quê: Tân Sỏi, Yên Thế, Bắc Giang
Nhập ngũ tháng 2/1987 • Công tác tại Bộ đội Biên phòng tỉnh Lạng Sơn
KÝ ỨC CỦA ÔNG NGOẠI
Lịch sử không chỉ nằm trong những trang sách mà còn hiện diện trong ký ức của những người đã sống, cống hiến và trưởng thành qua những năm tháng gian khó của đất nước.
Em đã có cơ hội được lắng nghe một câu chuyện như thế từ chính ông ngoại của mình – ông Phan Văn Lý, người từng dành những năm tháng tuổi trẻ để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ biên giới phía Bắc của Tổ quốc.
Trong buổi trò chuyện, em hỏi ông về những ngày đầu tham gia quân ngũ, về công việc của người lính biên phòng và những kỷ niệm mà ông còn nhớ mãi.
Qua lời kể của ông, trước mắt em dần hiện lên hình ảnh một người lính trẻ giữa núi rừng biên giới Lạng Sơn gần bốn mươi năm về trước.
Mười chín tuổi và màu áo lính
Ông ngoại em sinh năm 1968, quê ở Tân Sỏi, Yên Thế, Bắc Giang.
Tháng 2 năm 1987, khi vừa tròn 19 tuổi, ông lên đường nhập ngũ và được phân công công tác tại lực lượng Bộ đội Biên phòng ở tỉnh Lạng Sơn.
Đó là giai đoạn tình hình biên giới phía Bắc vẫn còn nhiều căng thẳng. Đất nước đang từng bước khắc phục những hậu quả nặng nề của chiến tranh, đời sống của nhân dân còn nhiều thiếu thốn.
Ở nơi biên cương, điều kiện sinh hoạt của những người lính cũng vô cùng khó khăn. Địa hình đồi núi hiểm trở, đường đi lại không thuận lợi, nhiều khu vực còn tiềm ẩn nguy hiểm bởi bom mìn.
Giữa hoàn cảnh ấy, ông cùng đồng đội thực hiện nhiệm vụ trực chiến, tuần tra đường biên, kiểm tra các cột mốc chủ quyền và bảo vệ sự bình yên nơi biên giới.
Ngoài nhiệm vụ tuần tra, ông còn tham gia công tác vận động quần chúng, thường xuyên xuống các thôn bản, gặp gỡ và gắn bó với đồng bào các dân tộc sinh sống ở vùng biên.
Khi nghe ông kể, em hiểu rằng cuộc sống của người lính biên phòng không chỉ có những chặng đường tuần tra gian khổ mà còn gắn liền với cuộc sống của nhân dân.
Ông Phan Văn Lý trong quân phục biên phòng.
Kỷ niệm không quên: Học tiếng đồng bào
Trong buổi phỏng vấn, em đặc biệt muốn biết kỷ niệm nào khiến ông nhớ nhất sau những năm tháng công tác nơi biên giới.
Ông đã kể cho em nghe về một khó khăn rất đặc biệt trong quá trình làm nhiệm vụ: rào cản ngôn ngữ khi giao tiếp với đồng bào dân tộc.
Ngày ấy, trong những lần xuống thôn bản để tuyên truyền, vận động nhân dân, ông thường xuyên tiếp xúc với đồng bào dân tộc Tày, Nùng.
Tuy nhiên, do chưa biết tiếng địa phương nên việc giao tiếp ban đầu gặp nhiều trở ngại.
Muốn hiểu được bà con, muốn truyền đạt những nội dung cần thiết và thực hiện tốt nhiệm vụ, ông nhận ra rằng mình phải học tiếng đồng bào.
Thế là người lính trẻ bắt đầu học.
Ông học từ những điều gần gũi nhất trong cuộc sống hằng ngày: cách gọi các con số, cách nói về việc ăn, ngủ, cách đếm tiền và những từ ngữ thường dùng khi giao tiếp.
Từng từ, từng câu được ông kiên trì học hỏi để có thể trò chuyện với bà con thuận lợi hơn.
Đối với em, đây là chi tiết đáng nhớ nhất trong câu chuyện của ông ngoại.
Trước đây, khi nghĩ đến người lính biên phòng, em thường hình dung những chú bộ đội mang súng, đi tuần tra giữa núi rừng và canh giữ các cột mốc biên giới.
Nhưng qua lời kể của ông, em biết thêm một hình ảnh thật đẹp: người lính trẻ chăm chỉ học tiếng đồng bào để gần gũi và thấu hiểu nhân dân.
Em hiểu rằng, để hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, người lính không chỉ cần lòng dũng cảm mà còn cần sự kiên trì, trách nhiệm và tình cảm gắn bó với đồng bào nơi biên giới.
Việc học những từ ngữ giản dị ấy đã giúp ông thuận lợi hơn trong công tác dân vận, góp phần xây dựng tình đoàn kết quân dân.
Đó cũng là một phần công việc thầm lặng nhưng đầy ý nghĩa của người lính biên phòng.
Niềm tự hào về những năm tháng tuổi trẻ
Những năm tháng quân ngũ của ông gắn liền với biết bao khó khăn.
Đó là những ngày sinh hoạt trong điều kiện vật chất thiếu thốn, những chặng đường tuần tra hiểm trở và những nhiệm vụ đòi hỏi tinh thần trách nhiệm cao.
Thế nhưng, khi nhớ lại quãng thời gian ấy, điều ông nhắc đến không chỉ là gian khổ mà còn là niềm tự hào.
Ông tự hào vì khi còn trẻ đã được khoác lên mình màu áo xanh của người lính biên phòng, được cùng đồng đội thực hiện nhiệm vụ bảo vệ biên cương Tổ quốc.
Ông cũng tự hào về tinh thần của thế hệ thanh niên và nhân dân Việt Nam trong những năm tháng đất nước còn nhiều khó khăn, thử thách.
Lắng nghe ông kể, em cảm nhận được rằng những năm tháng tuổi trẻ ấy đã trở thành một phần ký ức sâu sắc trong cuộc đời ông.
Đối với ông, đó không chỉ là quãng thời gian thực hiện nghĩa vụ quân sự mà còn là những năm tháng được sống, rèn luyện và cống hiến cho đất nước.
Ông Phan Văn Lý tại khu tưởng niệm.
Lời ông gửi đến thế hệ hôm nay
Cuối buổi trò chuyện, em hỏi ông muốn nhắn nhủ điều gì đến thế hệ trẻ chúng em.
Ông ân cần dặn rằng, khi còn nhỏ, chúng em phải chăm ngoan, chịu khó học hành, biết nghe lời ông bà, cha mẹ.
Ông mong chúng em cố gắng học tập để có tri thức, sau này góp sức xây dựng và bảo vệ đất nước, làm rạng rỡ thêm truyền thống tốt đẹp của các thế hệ đi trước.
Những lời dặn của ông thật giản dị nhưng khiến em suy nghĩ rất nhiều.
Ông đã dành những năm tháng tuổi trẻ để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Còn chúng em hôm nay được lớn lên trong hòa bình, được đến trường, được học tập và vui chơi trong tình yêu thương của gia đình, thầy cô.
Em hiểu rằng mình cần biết trân trọng những điều tốt đẹp ấy.
Em cũng hiểu rằng, tình yêu Tổ quốc không phải lúc nào cũng thể hiện qua những việc làm lớn lao. Đôi khi, tình yêu ấy bắt đầu từ những hành động rất đỗi bình dị: tận tụy với nhiệm vụ, vượt qua khó khăn, học hỏi để hiểu và giúp đỡ mọi người.
Câu chuyện ông ngoại học tiếng đồng bào nơi biên giới đã giúp em hiểu sâu sắc hơn về điều đó.
Buổi phỏng vấn kết thúc nhưng những lời kể của ông vẫn còn đọng lại trong tâm trí em.
Em thấy tự hào khi biết ông ngoại mình từng là một người lính biên phòng, đã có những năm tháng tuổi trẻ gắn bó với biên cương Tổ quốc.
Em càng thêm yêu quý và kính trọng ông.
Từ câu chuyện của ông, em tự nhủ sẽ cố gắng chăm ngoan, học tập thật tốt, biết yêu thương và giúp đỡ mọi người để sau này có thể góp phần xây dựng quê hương, đất nước.
Thời gian có thể trôi qua, nhưng ký ức về những năm tháng tuổi trẻ của ông ngoại trong màu áo xanh người lính biên phòng sẽ luôn là niềm tự hào của gia đình em.
Và em tin rằng, những câu chuyện bình dị như câu chuyện của ông chính là một phần ký ức lịch sử quý giá cần được lắng nghe, trân trọng và gìn giữ cho các thế hệ mai sau.
NGƯỜI SƯU TẦM VÀ KỂ LẠI
Lê Bảo Trâm – Lớp 5A6
Trường Tiểu học Ninh Hiệp
Nguồn tư liệu: Nội dung phỏng vấn ông ngoại Phan Văn Lý, sinh năm 1968, quê Tân Sỏi, Yên Thế, Bắc Giang; nhập ngũ tháng 2/1987, công tác tại lực lượng Bộ đội Biên phòng tỉnh Lạng Sơn.ĐỀ ÁN • CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA
MÀU ÁO XANH
NƠI BIÊN CƯƠNG
Ký ức của người lính biên phòng qua lời kể của ông ngoại em
Ông Phan Văn Lý bên cột mốc biên giới Việt Nam
Người sưu tầm và kể lại: Lê Bảo Trâm
Học sinh lớp 5A6 – Trường Tiểu học Ninh Hiệp
Nhân chứng: Ông Phan Văn Lý (ông ngoại của em)
Sinh năm 1968 • Quê: Tân Sỏi, Yên Thế, Bắc Giang
Nhập ngũ tháng 2/1987 • Công tác tại Bộ đội Biên phòng tỉnh Lạng Sơn
KÝ ỨC CỦA ÔNG NGOẠI
Lịch sử không chỉ nằm trong những trang sách mà còn hiện diện trong ký ức của những người đã sống, cống hiến và trưởng thành qua những năm tháng gian khó của đất nước.
Em đã có cơ hội được lắng nghe một câu chuyện như thế từ chính ông ngoại của mình – ông Phan Văn Lý, người từng dành những năm tháng tuổi trẻ để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ biên giới phía Bắc của Tổ quốc.
Trong buổi trò chuyện, em hỏi ông về những ngày đầu tham gia quân ngũ, về công việc của người lính biên phòng và những kỷ niệm mà ông còn nhớ mãi.
Qua lời kể của ông, trước mắt em dần hiện lên hình ảnh một người lính trẻ giữa núi rừng biên giới Lạng Sơn gần bốn mươi năm về trước.
Mười chín tuổi và màu áo lính
Ông ngoại em sinh năm 1968, quê ở Tân Sỏi, Yên Thế, Bắc Giang.
Tháng 2 năm 1987, khi vừa tròn 19 tuổi, ông lên đường nhập ngũ và được phân công công tác tại lực lượng Bộ đội Biên phòng ở tỉnh Lạng Sơn.
Đó là giai đoạn tình hình biên giới phía Bắc vẫn còn nhiều căng thẳng. Đất nước đang từng bước khắc phục những hậu quả nặng nề của chiến tranh, đời sống của nhân dân còn nhiều thiếu thốn.
Ở nơi biên cương, điều kiện sinh hoạt của những người lính cũng vô cùng khó khăn. Địa hình đồi núi hiểm trở, đường đi lại không thuận lợi, nhiều khu vực còn tiềm ẩn nguy hiểm bởi bom mìn.
Giữa hoàn cảnh ấy, ông cùng đồng đội thực hiện nhiệm vụ trực chiến, tuần tra đường biên, kiểm tra các cột mốc chủ quyền và bảo vệ sự bình yên nơi biên giới.
Ngoài nhiệm vụ tuần tra, ông còn tham gia công tác vận động quần chúng, thường xuyên xuống các thôn bản, gặp gỡ và gắn bó với đồng bào các dân tộc sinh sống ở vùng biên.
Khi nghe ông kể, em hiểu rằng cuộc sống của người lính biên phòng không chỉ có những chặng đường tuần tra gian khổ mà còn gắn liền với cuộc sống của nhân dân.
Ông Phan Văn Lý trong quân phục biên phòng.
Kỷ niệm không quên: Học tiếng đồng bào
Trong buổi phỏng vấn, em đặc biệt muốn biết kỷ niệm nào khiến ông nhớ nhất sau những năm tháng công tác nơi biên giới.
Ông đã kể cho em nghe về một khó khăn rất đặc biệt trong quá trình làm nhiệm vụ: rào cản ngôn ngữ khi giao tiếp với đồng bào dân tộc.
Ngày ấy, trong những lần xuống thôn bản để tuyên truyền, vận động nhân dân, ông thường xuyên tiếp xúc với đồng bào dân tộc Tày, Nùng.
Tuy nhiên, do chưa biết tiếng địa phương nên việc giao tiếp ban đầu gặp nhiều trở ngại.
Muốn hiểu được bà con, muốn truyền đạt những nội dung cần thiết và thực hiện tốt nhiệm vụ, ông nhận ra rằng mình phải học tiếng đồng bào.
Thế là người lính trẻ bắt đầu học.
Ông học từ những điều gần gũi nhất trong cuộc sống hằng ngày: cách gọi các con số, cách nói về việc ăn, ngủ, cách đếm tiền và những từ ngữ thường dùng khi giao tiếp.
Từng từ, từng câu được ông kiên trì học hỏi để có thể trò chuyện với bà con thuận lợi hơn.
Đối với em, đây là chi tiết đáng nhớ nhất trong câu chuyện của ông ngoại.
Trước đây, khi nghĩ đến người lính biên phòng, em thường hình dung những chú bộ đội mang súng, đi tuần tra giữa núi rừng và canh giữ các cột mốc biên giới.
Nhưng qua lời kể của ông, em biết thêm một hình ảnh thật đẹp: người lính trẻ chăm chỉ học tiếng đồng bào để gần gũi và thấu hiểu nhân dân.
Em hiểu rằng, để hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, người lính không chỉ cần lòng dũng cảm mà còn cần sự kiên trì, trách nhiệm và tình cảm gắn bó với đồng bào nơi biên giới.
Việc học những từ ngữ giản dị ấy đã giúp ông thuận lợi hơn trong công tác dân vận, góp phần xây dựng tình đoàn kết quân dân.
Đó cũng là một phần công việc thầm lặng nhưng đầy ý nghĩa của người lính biên phòng.
Niềm tự hào về những năm tháng tuổi trẻ
Những năm tháng quân ngũ của ông gắn liền với biết bao khó khăn.
Đó là những ngày sinh hoạt trong điều kiện vật chất thiếu thốn, những chặng đường tuần tra hiểm trở và những nhiệm vụ đòi hỏi tinh thần trách nhiệm cao.
Thế nhưng, khi nhớ lại quãng thời gian ấy, điều ông nhắc đến không chỉ là gian khổ mà còn là niềm tự hào.
Ông tự hào vì khi còn trẻ đã được khoác lên mình màu áo xanh của người lính biên phòng, được cùng đồng đội thực hiện nhiệm vụ bảo vệ biên cương Tổ quốc.
Ông cũng tự hào về tinh thần của thế hệ thanh niên và nhân dân Việt Nam trong những năm tháng đất nước còn nhiều khó khăn, thử thách.
Lắng nghe ông kể, em cảm nhận được rằng những năm tháng tuổi trẻ ấy đã trở thành một phần ký ức sâu sắc trong cuộc đời ông.
Đối với ông, đó không chỉ là quãng thời gian thực hiện nghĩa vụ quân sự mà còn là những năm tháng được sống, rèn luyện và cống hiến cho đất nước.
Ông Phan Văn Lý tại khu tưởng niệm.
Lời ông gửi đến thế hệ hôm nay
Cuối buổi trò chuyện, em hỏi ông muốn nhắn nhủ điều gì đến thế hệ trẻ chúng em.
Ông ân cần dặn rằng, khi còn nhỏ, chúng em phải chăm ngoan, chịu khó học hành, biết nghe lời ông bà, cha mẹ.
Ông mong chúng em cố gắng học tập để có tri thức, sau này góp sức xây dựng và bảo vệ đất nước, làm rạng rỡ thêm truyền thống tốt đẹp của các thế hệ đi trước.
Những lời dặn của ông thật giản dị nhưng khiến em suy nghĩ rất nhiều.
Ông đã dành những năm tháng tuổi trẻ để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Còn chúng em hôm nay được lớn lên trong hòa bình, được đến trường, được học tập và vui chơi trong tình yêu thương của gia đình, thầy cô.
Em hiểu rằng mình cần biết trân trọng những điều tốt đẹp ấy.
Em cũng hiểu rằng, tình yêu Tổ quốc không phải lúc nào cũng thể hiện qua những việc làm lớn lao. Đôi khi, tình yêu ấy bắt đầu từ những hành động rất đỗi bình dị: tận tụy với nhiệm vụ, vượt qua khó khăn, học hỏi để hiểu và giúp đỡ mọi người.
Câu chuyện ông ngoại học tiếng đồng bào nơi biên giới đã giúp em hiểu sâu sắc hơn về điều đó.
Buổi phỏng vấn kết thúc nhưng những lời kể của ông vẫn còn đọng lại trong tâm trí em.
Em thấy tự hào khi biết ông ngoại mình từng là một người lính biên phòng, đã có những năm tháng tuổi trẻ gắn bó với biên cương Tổ quốc.
Em càng thêm yêu quý và kính trọng ông.
Từ câu chuyện của ông, em tự nhủ sẽ cố gắng chăm ngoan, học tập thật tốt, biết yêu thương và giúp đỡ mọi người để sau này có thể góp phần xây dựng quê hương, đất nước.
Thời gian có thể trôi qua, nhưng ký ức về những năm tháng tuổi trẻ của ông ngoại trong màu áo xanh người lính biên phòng sẽ luôn là niềm tự hào của gia đình em.
Và em tin rằng, những câu chuyện bình dị như câu chuyện của ông chính là một phần ký ức lịch sử quý giá cần được lắng nghe, trân trọng và gìn giữ cho các thế hệ mai sau.
NGƯỜI SƯU TẦM VÀ KỂ LẠI
Lê Bảo Trâm – Lớp 5A6
Trường Tiểu học Ninh Hiệp
Nguồn tư liệu: Nội dung phỏng vấn ông ngoại Phan Văn Lý, sinh năm 1968, quê Tân Sỏi, Yên Thế, Bắc Giang; nhập ngũ tháng 2/1987, công tác tại lực lượng Bộ đội Biên phòng tỉnh Lạng Sơn.



