Mẩu chuyện nhỏ về đồng chí Nguyễn Văn Linh
Mẩu chuyện nhỏ về đồng chí Nguyễn Văn Linh
Cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đến thăm và chúc thọ NSND Phùng Há tròn 80 tuổi tại Hội Sân khấu TPHCM năm 1990. (Ảnh: Hồng Nga)
TPHCM vừa tổ chức thành công hội thảo khoa học “Đồng chí Nguyễn Văn Linh với cách mạng miền Nam, với Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định và TPHCM”. Tại hội thảo, các tham luận đều khẳng định: Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh là người góp phần tích cực vào việc hình thành đường lối đổi mới của Đảng ta. Trong suốt những năm giữ nhiều cương vị trọng trách của Đảng, đồng chí là nhà lãnh đạo mang phong thái bình dị, gần dân, luôn lắng nghe dân, trong đó có giới văn nghệ sĩ.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều bài viết ca ngợi bản lĩnh, tài năng, đức độ của đồng chí… Trong bài viết này, tôi chỉ xin kể một mẩu chuyện nhỏ về cách ứng xử của đồng chí Nguyễn Văn Linh với một tác phẩm nghệ thuật trong thời gian ông giữ trọng trách Bí thư Thành ủy TPHCM.
Khoảng cuối thập niên 80 của thế kỷ trước, ba tôi - Nhà văn Ngọc Linh*, có viết kịch bản cải lương Muôn dặm vì chồng. Khi đó tác phẩm được dàn dựng trên sân khấu đoàn Cải lương Văn công thành phố, do đạo diễn, Nghệ sĩ Nhân dân Huỳnh Nga dàn dựng. Nội dung chính của vở diễn xoay quanh câu chuyện của vợ chồng danh sĩ Bùi Hữu Nghĩa. (Tính đến thời điểm đó, gia đình tôi đã sống trên đường Bùi Hữu Nghĩa, Quận 5 suốt hơn 40 năm. Có lẽ, một phần vì tâm linh, ba tôi muốn viết về vị danh sĩ yêu nước này).
Đó là một tác phẩm sân khấu đề tài lịch sử ca ngợi Bùi Hữu Nghĩa, vị quan thanh liêm, chính trực dưới triều Vua Tự Đức. Bùi Hữu Nghĩa là người dũng cảm bảo vệ dân nghèo, dám đương đầu với thế lực cường hào ác bá, liên quan đến người nhà quan Bố Chánh đầu tỉnh, nên ông đã bị vu cáo, tống giam vào ngục, chờ ngày xử chém. Trước tình thế đó, vợ ông – bà Nguyễn Thị Tồn đã không quản hiểm nguy sống chết, vượt đường xa, trèo đèo lội suối ra kinh đó, vừa kêu oan cho chồng, cứu dân, vừa tố cáo bọn tham quan bức hiếp dân lành. Tại kinh đô, nhờ vị Thượng thư Bộ Lại, cũng là quan thanh liêm chính trực và đặc biệt nhờ tấm lòng yêu dân của Thái hậu Từ Dũ, vụ án Bùi Hữu Nghĩa được làm sáng tỏ, kẻ ác bị trừng trị.
Chủ đề tư tưởng vở diễn hết sức rõ ràng. Vậy mà, vở diễn đã bị “đánh” tơi tả, bị suy diễn và “chụp mũ” những tội tày đình, như: chửi Cộng sản, xúi giục vợ con lính Ngụy ra Trung ương biểu tình, Ngọc Linh từng là nhà văn ở chế độ cũ v.v… Tập thể đoàn cải lương Văn công thành phố đi “kêu oan” nhiều cửa, nhưng bất lực.
Người hết sức bảo vệ tác phẩm này là đồng chí Dương Đình Thảo, Thành ủy viên, Giám đốc Sở Văn hóa và Thông tin thời kỳ đó cũng chỉ biết “giơ lưng chịu đòn” cùng các nghệ sĩ… Vở diễn được duyệt lên duyệt xuống từ hội đồng rồi “siêu hội đồng”, tác phẩm vẫn không được phép công diễn.
Tôi nhớ, một buổi chiều sau buổi phúc khảo không biết lần thứ mấy, ba tôi về nhà với vẻ mặt đỏ phừng phừng, ông bị cao huyết áp. Mãi đến tối, ông ngồi thừ mặt và nói với riêng tôi “Đau và nhục lắm con, một thành viên trong “siêu hội đồng” bước ra cửa, vỗ vai ba: Tất cả cũng tại cậu. Biết chạy trước đến tôi thì có phải là xong…”.
Không còn cách nào khác, cuối cùng đồng chí Dương Đình Thảo phải tổ chức một buổi diễn phúc khảo cho Bí thư Thành ủy Nguyễn Văn Linh xem duyệt. Xem xong, đồng chí trầm ngâm một lát, rồi nói với các nghệ sĩ, đại ý rằng: Trước khi đến đây, tôi nghe người ta đồn thổi vở này chửi Cộng sản ghê lắm… Nhiều người sao cứ hay vơ vào, suy diễn. Tôi có thấy chửi gì đâu. Còn nếu anh nào tự nhận Cộng sản xấu như mấy tên cường hào, ác bá thời phong kiến như trong vở diễn, thì chửi là đúng… Tối đó, tất cả nghệ sĩ của đoàn hát như vỡ òa vì hạnh phúc. Vở diễn được ra mắt và gây tiếng vang lớn, khán giả nườm nượp đi xem.
Tuy nhiên, khi ra mắt khán giả, vở diễn được đổi tên thành Muôn dặm sơn khê.
Năm 1990, sau khi đã biểu diễn được mấy trăm suất, vở diễn này của đoàn Văn công thành phố đã được trao Huy chương Vàng Hội diễn Sân khấu truyền hình toàn quốc. Sau đó, đoàn Cải lương Đồng Nai xin kịch bản dàn dựng và trình diễn cũng diễn được hàng trăm suất, rồi tham gia Hội diễn Sân khấu truyền hình toàn quốc năm 1998 và được trao Huy chương Bạc.
Khi vở diễn đã được công luận và dư luận rộng rãi công nhận về giá trị nội dung và nghệ thuật thì đó cũng là câu trả lời thuyết phục nhất về những đánh giá sai lầm trước đó. Sự kiện về vở diễn Muôn dặm sơn khê trở thành một kỷ niệm đáng nhớ trong lịch sử phát triển của đoàn Văn công thành phố. Lãnh đạo đoàn hát và văn nghệ sĩ tham gia vở diễn này đều ghi nhớ những nhận định, kết luận sáng suốt của Bí thư Thành ủy Nguyễn Văn Linh đối với một tác phẩm nghệ thuật và thái độ trân trọng, quyết tâm bảo vệ một tác phẩm nghệ thuật của những người quản lý văn nghệ công tâm khi đó…
Tôi có may mắn được dự buổi đồng chí Nguyễn Văn Linh và phu nhân đến Hội Sân khấu thành phố mừng thọ Nghệ sĩ Nhân dân Phùng Há. Đồng chí nắm tay, thân tình hỏi han nghệ sĩ Phùng Há như hai người bạn già ít có thời gian gặp mặt… Với các nghệ sĩ khác có mặt lúc đó, đồng chí đều ân cần, gần gũi. Hình ảnh đó để lại mãi trong tôi ấn tượng đẹp khó phai về cách ứng xử của một nhà chính trị ở hàng ngũ cao nhất trong Đảng.
Liên Chi
(*) Nhà văn Ngọc Linh: Giải thưởng Nhà nước chuyên ngành sân khấu
Câu chuyện được trích dẫn từ trang: https://www.hcmcpv.org.vn/tin-tuc/mau-chuyen-nho-ve-dong-chi-nguyen-van-linh-1435659631
Chuyện cảm động về anh Mười Cúc và anh Sáu Dân
Cố TBT Nguyễn Văn Linh (thứ ba từ trái sang) tại căn cứ Trung ương Cục Miền Nam.
TP - Cố Tổng Bí thư (TBT) Nguyễn Văn Linh (bí danh Mười Cúc) và cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt là hai nhà lãnh đạo kiệt xuất, từng cầm súng trực tiếp chiến đấu, có nhiều đóng góp quan trọng trong công cuộc xây dựng và kiến thiết đất nước, được nhân dân yêu mến, bạn bè kính trọng bởi sự giản dị, gần gũi,...
Hơn 30 năm gắn bó, mỗi khi nhớ đến ông Mười Cúc và ông Sáu Dân, đại tá bác sỹ Lê Hồng Quang lại rưng rưng xúc động.
Thương lính như con
Chiều cuối năm, trong căn nhà ở ngoại ô Sài Gòn, đại tá bác sỹ (BS) Lê Hồng Quang (80 tuổi) bồi hồi lục tìm những tấm ảnh đen trắng đã ố màu thời gian. Ông khoe: "Tấm ảnh anh Sáu Dân và tôi tắm suối giữa đại ngàn Trường Sơn, cụ Nguyễn Văn Linh đích thân bấm máy. Tôi biết chụp ảnh, quay phim cũng nhờ cụ dạy cho”.
BS Quang quê ở Sa Ðéc (Ðồng Tháp) tham gia kháng chiến chống Pháp rồi tập kết ra Bắc, đến năm 1966 trở về miền Nam. Ông Quang kể: Ông Sáu Bằng, Phó Văn phòng Trung ương Cục đưa tôi vào gặp cụ Nguyễn Văn Linh giới thiệu: “Thằng này học chính quy Ðại học Y Hà Nội. Nó học giỏi, sinh viên tiên tiến nhiều năm liền. Văn phòng giới thiệu nó lo sức khỏe cho anh”.
Cụ Linh cười: Ông khỏi giới thiệu. Thằng này tôi biết rồi. Nó hiền, làm việc cũng được. Cứ để nó chăm sóc sức khỏe cho Thường vụ Trung ương Cục.
BS Quang hơi bất ngờ vì ông Linh, dù giữ trọng trách rất cao, bận rộn trăm bề, vẫn không quên người bác sỹ chỉ gặp duy nhất một lần. Hồi ấy, BS Quang được điều động giúp nước bạn Campuchia. Ông Linh sang thăm, BS Quang vinh dự được chăm sóc cho ông Linh.
BS Quang trở thành một trong những người thân tín, gắn bó với ông Linh suốt trong những năm tháng chiến tranh cho đến ngày ông Linh nhắm mắt. Ông Quang ngủ ở cửa hầm để canh gác, bảo vệ, đi công tác đôi khi chỉ có hai người. Có lần, ông Nguyễn Văn Linh bảo bà Bảy Huệ vợ ông: “Tôi thương thằng Quang như con”.
“Tôi học Ðại học Y Hà Nội khoá 1961 -1966, là bí thư chi bộ, lớp trưởng của bác sỹ Ðặng Thuỳ Trâm. Trâm ba lần gặp tôi xin đi B nhưng lúc đó anh Tư Thạch (Bộ trưởng Phạm Ngọc Thạch) muốn sinh viên miền Nam đi trước. Tôi đi B năm 1966 còn Ðặng Thuỳ Trâm đi năm 1967. Trong hồi ký, Trâm viết các bạn đi B trước cô ấy một năm”.
Ðại tá bác sỹ Lê Hồng Quang
BS Quang nhớ lại: Cụ sinh hoạt, ăn uống rất giản dị, đặc biệt là thương anh em. Cụ tự giặt quần áo lót, không phiền nhân viên phục vụ. Ðiều kiện sinh hoạt thiếu thốn, mỗi bữa, cụ san sẻ cho anh em, có khi là mấy con cá kho, tô canh chua lá giang rừng…
“Cụ thích quay phim, chụp ảnh. Tôi chỉ biết lỏm bỏm, sau này được cụ dạy thêm. Cụ dành căn hầm trú ẩn để tôi rửa ảnh, tráng phim còn cụ chạy lên, chạy xuống kiểm tra, góp ý” - BS Quang kể.
Những ngày diễn ra chiến dịch Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968, ông Nguyễn Văn Linh về Củ Chi (Sài Gòn), Bến Cát (Bình Dương) kiểm tra tình hình. Ông nhắm hướng, cắt rừng mà đi, không hành quân trên đường dễ lộ dấu vết.
Ông Linh xuống gặp ông Trần Bạch Ðằng. BS Quang và gần một tiểu đội đi theo bảo vệ. Gần đến nơi thì nhận được tin một bảo vệ của ông Ðằng đầu hàng địch. Vài ngày trước Tám Hà, một cán bộ dưới quyền ông Ðằng cũng chiêu hồi. Tình thế vô cùng nguy cấp, ông Linh quyết định quay lại.
“Trên đường rút về cứ, địch pháo kích dữ dội. Máy bay quần thảo liên tục” - BS Quang nhớ lại.
Sau này, TBT Nguyễn Văn Linh thường đi cơ sở, nghe các địa phương báo cáo rồi bí mật lệnh BS Quang kiểm chứng, đến hỏi thăm người dân địa phương báo cáo với ông. Nhiều vụ đánh tráo lợn béo của người dân thành lợn của hợp tác xã được phát hiện.
Ðại tá bác sỹ Lê Hồng Quang.
Chôn chặt nỗi đau
BS Quang nói tư duy đổi mới của TBT Nguyễn Văn Linh có từ rất sớm. Từng là Phó Bí thư Trung ương Cục nên ông Linh được lãnh đạo các tỉnh phía Nam như ông Chín Cần, Bí thư Long An, ông Sáu Hơn, Bí thư An Giang… lên xin ý kiến. Chủ trương tính công lao động vào lương bắt đầu từ Long An, còn mô hình “cánh đồng mẫu lớn” khởi phát từ An Giang.
Năm 1979, ông Nguyễn Văn Linh và phu nhân cùng người con gái đầu đang ở Matxcova (Liên Xô) thì nhận được tin dữ.
BS Quang nhớ lại: “Ông Minh Châu, Phó Văn phòng Trung ương điện sang báo Nguyễn Hùng Linh (con trai ông) bị tai nạn. Bà Bảy Huệ và cô Hoà bay về, chỉ còn hai thầy trò ở lại. Cụ Linh rất buồn, không muốn gặp ai. Mỗi khi gặp chuyện buồn, cụ ghi âm, đọc sách để khuây khỏa. Tôi chuẩn bị sẵn cho cụ mấy bộ tiểu thuyết, trong đó có truyện “Tiếu ngạo giang hồ”. Có khi nửa đêm, cụ thức dậy, cặm cụi ghi âm.
Khi Liên Xô cải tổ, cụ rất tâm tư. Năm 1987, tôi tháp tùng cụ sang Nga dự 70 năm Cách mạng tháng Mười. Họ bắt hai thầy trò ngồi chờ cả tiếng. Tôi rất bực nhưng ông cụ vẫn điềm tĩnh. Cụ nhận định: "Tình hình gay go lắm. Gorbachev bày vẽ cải tổ chứ không vững đâu”.
“Lúc sắp mất, cụ gọi tôi vào gặp mấy lần, dường như muốn dặn dò điều gì đó nhưng rồi cụ im lặng” - BS Quang nhớ lại.
BS Lê Hồng Quang còn may mắn được tiếp xúc, gần gũi với nhiều vị lãnh đạo kiệt xuất khác. Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt (bí danh Sáu Dân) là một trong số ấy.
Năm 1973, đoàn cán bộ miền Nam vượt Trường Sơn ra Bắc. Ðoàn có ông Nguyễn Văn Linh, ông Võ Văn Kiệt, tướng Hoàng Văn Thái. Bác sỹ Quang được giao chăm sóc cho ông Linh, ông Sáu Dân và ông Sáu Ðường, bí thư T3.
Ðoàn được ông Ðặng Tính, chính uỷ Ðoàn 559 đón tiếp. Ðến Ðồng Hới thì đại tướng Võ Nguyên Giáp ra đón và bố trí một chuyến bay đưa cả đoàn về sân bay Gia Lâm (Hà Nội) ngay trong ngày.
“Sáng hôm sau, tôi đi ngang qua câu lạc bộ quân đội thì thấy đăng tin ông Ðặng Tính hy sinh. Sau này tôi nghe anh em kể lại là sau khi chia tay đoàn cán bộ miền Nam, xe ông Ðặng Tính quay vào Nam cán phải mìn” - BS Quang xúc động.
Cũng trên cung đường Trường Sơn năm ấy, BS Quang nhiều lần bắt gặp ông Sáu Dân lặng lẽ nuốt nước mắt sau khi biết tin con trai đầu hy sinh. Có nỗi đau nào lớn hơn khi vợ con ông lần lượt bỏ ông mà đi trong vài năm.
Ông Quang kể: Anh Sáu Dân là người sống tình cảm, giản dị, bình dân. Tôi thường chạy sang chỗ ảnh ăn cơm. Khi ảnh lên làm Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch nhà nước (này là Bộ Kế hoạch và đầu tư), nhiều người muốn kết thân, đề nghị làm sân tennis cho ảnh nhưng ảnh từ chối. Sân tennis ở Hồ Tây, lưới B40 anh Sáu đem trong Nam ra.
“Một lần, anh Sáu tiếp đoàn chuyên gia Liên Xô sang giúp giải quyết lạm phát, tửu lượng của ảnh vốn rất khá nhưng hôm đó dùng rượu Ðồng Tháp, về nhà ảnh hỏi tôi: Sao rượu nó ngọt ngọt, uống dễ chết quá mày. Chắc chết thiệt đó. Bữa đó ảnh say, tôi phải giải rượu cho ảnh” - BS Quang nhớ lại.
Huy Thịnh (ghi)
Câu chuyện được trích dẫn từ trang: https://tienphong.vn/chuyen-cam-dong-ve-anh-muoi-cuc-va-anh-sau-dan-post847115.tpo


