MÀU THỜI GIAN TRONG KÝ ỨC NGƯỜI LÍNH
Thông tin nhân chứng: ● Họ và tên nhân chứng : Phạm Đình Cư ● Năm sinh : 6/2/1934 ● Quê quán : làng Bắc Song, xã Hà Giang, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình ● Tóm tắt quá trình cống hiến: ông tham gia nhập ngũ năm 1951, tham gia trong cuộc kháng chiến chống Pháp năm 1952-1954 ông trở về và tái ngũ tham gia vào cuộc kháng chiến chống Mỹ năm 1965.
Ông Phạm Đình Cư sinh năm 1934 tại làng quê nhỏ thôn Bắc Song, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình. Tuổi mười bảy, tuổi của mơ mộng, nhưng với ông lại là tuổi của tiếng súng, của lòng căm hờn giặc ngoại xâm khi chúng đóng quân tại nhà thờ tại quê làng của ông.
Ông kể lại, năm ấy mới 17 tuổi, dáng người gầy gò, chỉ nặng chừng 40–50 cân. Khi bộ đội về làng hỏi ai muốn đi, ông không chút do dự tham gia vào quân ngũ ông nói rằng “Giặc Pháp đóng quân ngay trong vùng, mình không theo chúng thì phải đi bộ đội để đánh lại chúng,” Từ đó, những bước chân đầu tiên của tuổi trẻ ông là những đêm đi bộ ra ngoại thành Hà Nội để huấn luyện. Không có phương tiện chỉ một mình ông lặng lẽ lên đường, mang theo niềm tin giản dị: đi để bảo vệ quê hương , tổ quốc.
Ba năm chống Pháp, ông trở về quê khi đất nước giành được hòa bình năm 1954. Nhưng chưa kịp nghỉ ngơi, khi Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc, ông lại tái ngũ. Lần này, ông tham gia lực lượng phòng không, bảo vệ vùng phía Bắc Thủ đô.“Đánh Pháp ba năm, đánh Mỹ hơn bảy năm. Cả chục năm trong quân ngũ, đồng đội nhiều lắm, nhưng giờ phần lớn đã không còn,” ông trầm ngâm.
Những năm tháng ấy, tình đồng chí là điểm tựa lớn nhất. Ông cùng đồng đội sống trong bom đạn, trong những trận đánh khốc liệt, nơi sự sống và cái chết chỉ cách nhau một khoảnh khắc. Nhưng đối với ông khoảng thời gian ấy đã trở nên vô cùng đáng quý những ngày đêm được tập luyện được tham gia bảo vệ người dân, tham gia kháng chiến cùng vui ca với những người đồng đội thật đáng nhớ.
Ký ức về chiến trường hiện về rõ ràng trong lời kể của ông. “Bom rơi, chết là chuyện thường. Có người ngã ngay trước mắt. Nhưng khi đã nổ súng rồi thì không nghĩ gì nữa, chỉ lao vào. Đánh nhau thì phải có người sống, người chết.”Ông nhớ về những trận đánh ở Nam Định, Thái Nguyên,...những ngày tham gia lực lượng phòng không, đối đầu trực diện với máy bay Mỹ. Tiếng bom, tiếng súng, tiếng đồng đội hô nhau xông lên – tất cả đã trở thành một phần ký ức không thể phai mờ.
Sau những năm tháng trận mạc, ông được Nhà nước trao tặng Huân chương Kháng chiến hạng Nhì – phần thưởng cao quý ghi nhận công lao của một người lính đã dành cả tuổi trẻ cho Tổ quốc. Nhưng với ông, tấm huân chương ấy không chỉ là vinh dự, mà còn là lời nhắc nhở về những người đồng đội đã nằm lại nơi chiến trường. Phần thưởng lớn nhất không phải là huân chương, mà là ký ức về tình đồng chí, tình anh em. Đó là những cái bắt tay siết chặt trước giờ ra trận, là ánh mắt động viên nhau trong phút hiểm nguy, là lời hẹn ước sẽ cùng trở về nhưng nhiều người đã không thể. Chính những ký ức ấy khiến ông, dù đã đi qua bao năm tháng, vẫn thấy lòng mình thắt lại mỗi khi nhớ về.



