Máy bay A-37 số hiệu 0475 và sự ra đời của “Phi đội Quyết thắng”
Máy bay A-37 số hiệu 0475 và sự ra đời của “Phi đội Quyết thắng”Trong khuôn viên của Bảo tàng Phòng không – Không quân đang trưng bày các hiện vật là vũ khí khối lớn, trong đó có chiếc máy bay A-37 số hiệu 0475. Đó là máy bay của không quân ngụy quyền, bị ta thu giữ và sử dụng nhằm tạo ra đòn đánh táo bạo, bất ngờ từ trên không xuống Sân bay Tân Sơn Nhất. Trong trận không kích của Phi đội Quyết thắng chiều 28/4/1975, chiếc máy bay này nằm trong đội hình 5 chiếc A-37, do Phi công Từ Đễ điều khiển.
Trận đánh của Phi đội Quyết thắng ngày 28/4/1975, đã đi vào lịch sử truyền thống của Không quân nhân dân Việt Nam, một trận đánh huyền thoại, một chiến thắng kỳ tích trong nghệ thuật quân sự, khi chỉ trong vòng 5 ngày các phi công MiG-17 của chúng ta đã chuyển loại bay làm chủ được tính năng, kỹ thuật và dùng chính loại máy bay A-37 của địch, làm nên chiến thắng vẻ vang của không quân ta. Trước đó, vào ngày 19/4/1975, Quân chủng Phòng không - Không quân nhận nhiệm vụ chuẩn bị lực lượng không quân tham gia Chiến dịch giải phóng Sài Gòn theo phương án sử dụng chính các máy bay A-37 thu hồi để đánh địch. Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không – Không quân đã triển khai nhanh chóng một loạt các công tác chuẩn bị để kịp thực hiện trận đánh mang ý nghĩa quan trọng vào ngày 28/4/1975. 
Máy bay A-37 số hiệu 0475 đang trưng bày tại Bảo tàng PK-KQ. Về lực lượng phi công, Bộ Tư lệnh Không quân quyết định chọn các phi công MiG-17 để chuyển loại sang bay A-37 trong thời gian ngắn nhất có thể. Thực hiện chỉ đạo của Bộ Tư lệnh Quân chủng, Anh hùng phi công Nguyễn Hồng Nhị, Phó Sư đoàn trưởng Sư đoàn Không quân 371, cùng các đồng chí trong Sở Chỉ huy tiền phương đã tuyển chọn các phi công MiG-17 ưu tú ở Phi đội 4 (Trung đoàn Không quân 923) để thực hiện nhiệm vụ đặc biệt này. Đó là các phi công đã có nhiều thành tích và kinh nghiệm trong chiến đấu như: Nguyễn Văn Lục, Từ Đễ, Hán Văn Quảng, Hoàng Mai Vượng… Về máy bay, Sở chỉ huy đã quyết định sử dụng số A-37 thu được của quân ngụy tại Đà Nẵng, nhanh chóng phục hồi để đưa vào làm nhiệm vụ. Chủ trì công tác kỹ thuật, phục hồi máy bay A-37 được giao cho Thiếu tá Hồ Thanh Minh, lúc đó là Phó Trưởng phòng Kỹ thuật Sư đoàn 371. Đồng chí Đại tá, Phi công Nguyễn Văn Thọ được giao nhiệm vụ huấn luyện chuyển loại phi công từ MiG-17 sang A-37. Ngay lập tức đồng chí Nguyễn Văn Thọ từ Sân bay Thọ Xuân (Thanh Hóa) lên đường vào Đà Nẵng. Riêng các Phi công Từ Đễ và Hoàng Mai Vượng do đã vào Đà Nẵng trước từ ngày 20/4 nên có điều kiện thuận lợi hơn, hai anh đi theo tổ đặc nhiệm kỹ thuật máy bay, nghiên cứu học tập lý thuyết và thực hành mở máy, bay kiểm tra. Tiếp đó, cấp trên điều thêm về Phi công Nguyễn Thành Trung, vốn là phi công F-5 về cùng phi đội bay A-37. Để đảm bảo máy bay cho trận đánh, tổ đặc nhiệm kỹ thuật cũng được thành lập và được giao nhiệm vụ khẩn trương đi tìm máy bay A-37 ở các sân bay mới giải phóng địch để lại, kiểm tra, thông điện, nổ máy và tìm cách chuyển về Sân bay Đà Nẵng nhanh nhất để phục vụ công tác huấn luyện. Trong quá trình làm việc, tổ đặc nhiệm kỹ thuật vinh dự được Thượng tướng Chu Huy Mân tới thăm và thông báo cho biết, ngày 26/4 tới, Chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu nổ súng. Anh em thợ máy vui mừng, quyết tâm làm công tác kỹ thuật nhanh và tốt nhất để có nhiều máy bay A-37 tham gia chiến dịch. Mặc dù thực hiện nhiệm vụ trong điều kiện cực kỳ khó khăn, thiếu thốn, nhưng anh em đã khắc phục khó khăn, sửa chữa máy bay suốt ngày đêm với quyết tâm phải có từ 6 đến 8 máy bay A-37 tốt, đủ điều kiện làm nhiệm vụ.
Tư lệnh Lê Văn Tri giao nhiệm vụ cho Phi đội Quyết Thắng. Ảnh tư liệu Vào lúc 8 giờ sáng ngày 26/4/1975 điện từ cơ quan Bộ Tổng Tham mưu, Đại tướng Võ Nguyên Giáp giao nhiệm vụ cho Tư lệnh Quân chủng Phòng không – Không quân Lê Văn Tri: “Nhanh chóng sử dụng máy bay thu được của địch tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh và chỉ được đánh vào chiều ngày 28/4/1975”. Tư lệnh Quân chủng Lê Văn Tri trực tiếp đi kiểm tra công tác chuẩn bị, kết quả huấn luyện, trình độ phi công, việc bảo đảm kỹ thuật chuẩn bị bom đạn. Sau khi kiểm tra đánh giá công tác chuẩn bị, Tư lệnh Lê Văn Tri nhấn mạnh: “Việc lắp, thả bom là khâu quyết định thắng lợi trận đánh, nếu phi công bay đến mục tiêu thả bom không được là hỏng trận đánh, vì vậy, Tổ đặc nhiệm chuẩn bị kiểm tra thật tốt từng đầu nổ các loại bom, từng cái móc treo bom, nút thả bom thật tốt, phải thử đi thử lại nhiều lần đảm bảo thông suốt tốt, phi công đến mục tiêu chỉ việc ấn nút, bom rơi nổ vào mục tiêu địch là thắng lợi”. Ngày 27/4/1975, lúc 12 giờ 30 tại Sân bay Phù Cát (Bình Định), Tư lệnh Quân chủng Phòng không – Không quân Lê Văn Tri, Tư lệnh Không quân Trần Hanh, Phó Sư đoàn trưởng Sư không quân 371 Nguyễn Hồng Nhị đã quyết định sử dụng 5 máy bay A-37 tham gia trận đánh. Về lực lượng phi công, các phi công chính thức gồm: Nguyễn Văn Lục, Phi đội trưởng, Từ Đễ, Hán Văn Quảng, Hoàng Mai Vượng, Nguyễn Thành Trung và Trần Văn On. Cũng tại buổi giao nhiệm vụ, Tư lệnh Quân chủng Lê Văn Tri đặt tên cho phi đội sử dụng A-37 tấn công Sân bay Tân Sơn Nhất ngày 28/4/1975 là “Phi đội Quyết thắng”. Vào lúc 9 giờ 30, sáng 28/4/1975, Phi đội Quyết thắng rời sân bay Phù Cát tiến về Sân bay Thành Sơn (Phan Rang) để kiểm tra, chuẩn bị lần cuối cùng kỹ thuật, bom đạn, xăng dầu. Sau đó, Tư lệnh Quân chủng Lê Văn Tri cùng các thành viên Sở Chỉ huy và các phi công thống nhất quyết định chọn mục tiêu đánh. Trong các mục tiêu dự kiến như: Dinh Độc Lập, Bộ Tổng Tham mưu ngụy, Cảng Nhà Bè, Sân bay Tân Sơn Nhất… Tư lệnh Lê Văn Tri nói: “Nếu chúng ta chọn mục tiêu là cơ quan Bộ Tổng Tham mưu ngụy, chắc gì quân Mỹ đã bỏ rơi quân ngụy, do còn đường hàng không, Mỹ có thể quay trở lại gây cản trở chúng ta. Vì vậy, Bộ Tư lệnh quyết định chọn mục tiêu là Sân bay Tân Sơn Nhất, các vị trí sân đỗ máy bay, kho tàng nơi cất giấu máy bay quân sự của ngụy. Khi Sân bay Tân Sơn Nhất bị đánh sẽ làm các cơ quan còn lại của Mỹ nhanh chóng tháo lui, do lo sợ không còn đường hàng không, các đơn vị quân ngụy sẽ rúng động, góp phần sụp đổ nhanh sức kháng cự, khiến quân ngụy nhanh chóng đầu hàng”. Tư lệnh Lê văn Tri lưu ý thêm: “Khi đánh, cần quan sát không được đánh bom làm hỏng hai đường băng sân bay”. Kế hoạch tác chiến của trận đánh được xác định như sau: Sau khi cất cánh, Phi đội bay theo đường bay từ Sân bay Thành Sơn, Phan Thiết, Hàm Tân, Sân bay Tân Sơn Nhất, bay ở độ cao thấp khoảng 300 - 400m. Để giữ bí mật, trên đường đi phi công không sử dụng vô tuyến điện, chỉ được dùng ám tín hiệu. Thứ tự bay theo đội hình: Số 1 - Nguyễn Thành Trung quen địa hình chỉ thị mục tiêu, số 2 - Từ Đễ, số 3 - Nguyễn Văn Lục, số 4 - Hoàng Mai Vượng và Trần Văn On, số 5 Hán Văn Quảng bay sau cùng quan sát bảo vệ phía sau phi đội. Khi bay qua Hàm Tân nhìn thấy Sân bay Tân Sơn Nhất thì cho máy bay lên cao rồi bổ nhào vào mục tiêu. Sau khi tiếp cận mục tiêu, mỗi máy bay ném bom 2 đợt, đợt đầu 4 quả bom, đợt hai là toàn bộ cơ số còn lại, rồi nhanh chóng thoát ly. Mọi công tác đã chuẩn bị xong, đến 13 giờ chiều cùng ngày tại đài chỉ huy sân bay có Tư lệnh Quân chủng Lê Văn Tri và các cán bộ. Đại tá, phi công Nguyễn Văn Thọ ngồi ở vị trí chỉ huy máy bay cất cánh. Toàn sân bay báo động vào cấp 1, không khí căng thẳng chờ đợi. Riêng phi công báo động vào cấp 2, quần áo, giày mũ gọn gàng chờ lệnh cấp 1. Không khí trên Sân bay Thành Sơn căng thẳng và hồi hộp. Đúng 16 giờ 25 phút, Tư lệnh Binh chủng Không quân Trần Hanh lệnh cho “Phi đội Quyết thắng” xuất kích.
Phi đội xuất kích. Ảnh tư liệu. Sau khi bay vừa qua khu vực Hàm Tân, các phi công nhìn rõ mục tiêu Sân bay Tân Sơn Nhất đã kéo máy bay lên độ cao theo kế hoạch, rồi từng máy bay bổ nhào về phía mục tiêu lúc 17 giờ 5 phút. Từng loạt bom nổ, các cột lửa, khói bốc cao bao trùm Sân bay Tân Sơn Nhất. Lúc đó chỉ huy sân bay, Chuẩn tướng ngụy Hoàng Anh Tuấn bị đánh bất ngờ đã vội vàng dùng máy vô tuyến gào thét: “A-37 của không đoàn nào?”. Phi công Từ Đễ đáp lại: “A-37 của Mỹ ném bom Ngụy đây!”. Sau khi ném bom đợt 2 xong, lúc 17 giờ 22 phút, phi đội thoát ly, quay về Sân bay Thành Sơn theo tuần tự: Số 1 - Hán Văn Quảng, số 2 - Từ Đễ , số 3 - Nguyễn Văn Lục, số 4 - Hoàng Mai Vượng và Trần Văn On, số 5 - Nguyễn Thành Trung. Khi bay về gần Phan Thiết, Phi công Từ Đễ thông báo qua vô tuyến chú ý quan sát để tránh pháo cao xạ. Anh vừa dứt lời thì từ mặt đất pháo bắn lên đỏ rực, các phi công hạ thấp độ cao, bay tránh vòng ra ngoài khu vực trận địa pháo, cả phi đội bay về sân bay an toàn. Phi đội về gần Sân bay Thành Sơn, khi chuẩn bị vào hạ cánh, máy bay số 2 của Phi công Từ Đễ đèn báo xăng dầu gần hết, vì vậy phải tắt một động cơ để máy bay giảm bớt tiêu hao nhiên liệu, thông báo cho Biên đội và Sở Chỉ huy biết. Lúc đó, Phi công Hán Văn Quảng đã nhường cho máy bay Phi công Từ Đễ vào hạ cánh trước. Với kỹ thuật điêu luyện, Phi công Từ Đễ hạ cánh nhẹ nhàng, đưa máy bay vào đường lăn thì cũng là lúc máy bay hết dầu, động cơ ngừng hẳn. Cả 5 máy bay của phi đội lần lượt hạ cánh an toàn vào lúc 18 giờ 15 phút ngày 28/4/1975 tại Sân bay Thành Sơn. Kết thúc thắng lợi trận đánh lịch sử, có một không hai của Không quân nhân dân Việt Nam. Trận đánh đã phá hủy 24 máy bay quân sự của ngụy, làm thương vong hàng trăm tên sĩ quan, binh lính ngụy. Trận đánh thắng lợi đã góp phần cùng quân và dân ta giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, đồng thời lập nên một kỳ tích, ghi thêm một trang sử vàng chói lọi trong truyền thống anh hùng của Không quân nhân dân Việt Nam. Trong lễ Tổng kết Chiến dịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Văn Tiến Dũng, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội, Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh đã nhận xét đánh giá trận đánh: “Là một trận đánh phối hợp tuyệt đẹp, một trận đánh hiệp đồng quân binh chủng đầy đủ nhất từ trước tới nay của Quân đội ta vào thời điểm hết sức quan trọng, có tác động lớn đến diễn biến chiến dịch đẩy địch đến hoảng loạn”.
Phi đội Quyết thắng hoàn thành nhiệm vụ đánh bom Sân bay Tân Sơn Nhất, về hạ cánh an toàn tại sân bay Phan Rang. Ảnh tư liệu. Sau trận đánh xuống Sân bay Tân Sơn Nhất, tạo được tiếng vang lớn, đồng thời góp phần xứng đáng vào thắng lợi cuối cùng của cả dân tộc trong ngày 30/4/1975, máy bay A-37 số hiệu 0475 tiếp tục thực hiện nhiều nhiệm vụ quan trọng khác của Không quân nhân dân Việt Nam trước khi trở thành hiện vật tiêu biểu tại Bảo tàng Phòng không – Không quân./.Lương Hạnh - Bảo tàng PK-KQ

Máy bay A-37 số hiệu 0475 đang trưng bày tại Bảo tàng PK-KQ. Về lực lượng phi công, Bộ Tư lệnh Không quân quyết định chọn các phi công MiG-17 để chuyển loại sang bay A-37 trong thời gian ngắn nhất có thể. Thực hiện chỉ đạo của Bộ Tư lệnh Quân chủng, Anh hùng phi công Nguyễn Hồng Nhị, Phó Sư đoàn trưởng Sư đoàn Không quân 371, cùng các đồng chí trong Sở Chỉ huy tiền phương đã tuyển chọn các phi công MiG-17 ưu tú ở Phi đội 4 (Trung đoàn Không quân 923) để thực hiện nhiệm vụ đặc biệt này. Đó là các phi công đã có nhiều thành tích và kinh nghiệm trong chiến đấu như: Nguyễn Văn Lục, Từ Đễ, Hán Văn Quảng, Hoàng Mai Vượng… Về máy bay, Sở chỉ huy đã quyết định sử dụng số A-37 thu được của quân ngụy tại Đà Nẵng, nhanh chóng phục hồi để đưa vào làm nhiệm vụ. Chủ trì công tác kỹ thuật, phục hồi máy bay A-37 được giao cho Thiếu tá Hồ Thanh Minh, lúc đó là Phó Trưởng phòng Kỹ thuật Sư đoàn 371. Đồng chí Đại tá, Phi công Nguyễn Văn Thọ được giao nhiệm vụ huấn luyện chuyển loại phi công từ MiG-17 sang A-37. Ngay lập tức đồng chí Nguyễn Văn Thọ từ Sân bay Thọ Xuân (Thanh Hóa) lên đường vào Đà Nẵng. Riêng các Phi công Từ Đễ và Hoàng Mai Vượng do đã vào Đà Nẵng trước từ ngày 20/4 nên có điều kiện thuận lợi hơn, hai anh đi theo tổ đặc nhiệm kỹ thuật máy bay, nghiên cứu học tập lý thuyết và thực hành mở máy, bay kiểm tra. Tiếp đó, cấp trên điều thêm về Phi công Nguyễn Thành Trung, vốn là phi công F-5 về cùng phi đội bay A-37. Để đảm bảo máy bay cho trận đánh, tổ đặc nhiệm kỹ thuật cũng được thành lập và được giao nhiệm vụ khẩn trương đi tìm máy bay A-37 ở các sân bay mới giải phóng địch để lại, kiểm tra, thông điện, nổ máy và tìm cách chuyển về Sân bay Đà Nẵng nhanh nhất để phục vụ công tác huấn luyện. Trong quá trình làm việc, tổ đặc nhiệm kỹ thuật vinh dự được Thượng tướng Chu Huy Mân tới thăm và thông báo cho biết, ngày 26/4 tới, Chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu nổ súng. Anh em thợ máy vui mừng, quyết tâm làm công tác kỹ thuật nhanh và tốt nhất để có nhiều máy bay A-37 tham gia chiến dịch. Mặc dù thực hiện nhiệm vụ trong điều kiện cực kỳ khó khăn, thiếu thốn, nhưng anh em đã khắc phục khó khăn, sửa chữa máy bay suốt ngày đêm với quyết tâm phải có từ 6 đến 8 máy bay A-37 tốt, đủ điều kiện làm nhiệm vụ.

Tư lệnh Lê Văn Tri giao nhiệm vụ cho Phi đội Quyết Thắng. Ảnh tư liệu Vào lúc 8 giờ sáng ngày 26/4/1975 điện từ cơ quan Bộ Tổng Tham mưu, Đại tướng Võ Nguyên Giáp giao nhiệm vụ cho Tư lệnh Quân chủng Phòng không – Không quân Lê Văn Tri: “Nhanh chóng sử dụng máy bay thu được của địch tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh và chỉ được đánh vào chiều ngày 28/4/1975”. Tư lệnh Quân chủng Lê Văn Tri trực tiếp đi kiểm tra công tác chuẩn bị, kết quả huấn luyện, trình độ phi công, việc bảo đảm kỹ thuật chuẩn bị bom đạn. Sau khi kiểm tra đánh giá công tác chuẩn bị, Tư lệnh Lê Văn Tri nhấn mạnh: “Việc lắp, thả bom là khâu quyết định thắng lợi trận đánh, nếu phi công bay đến mục tiêu thả bom không được là hỏng trận đánh, vì vậy, Tổ đặc nhiệm chuẩn bị kiểm tra thật tốt từng đầu nổ các loại bom, từng cái móc treo bom, nút thả bom thật tốt, phải thử đi thử lại nhiều lần đảm bảo thông suốt tốt, phi công đến mục tiêu chỉ việc ấn nút, bom rơi nổ vào mục tiêu địch là thắng lợi”. Ngày 27/4/1975, lúc 12 giờ 30 tại Sân bay Phù Cát (Bình Định), Tư lệnh Quân chủng Phòng không – Không quân Lê Văn Tri, Tư lệnh Không quân Trần Hanh, Phó Sư đoàn trưởng Sư không quân 371 Nguyễn Hồng Nhị đã quyết định sử dụng 5 máy bay A-37 tham gia trận đánh. Về lực lượng phi công, các phi công chính thức gồm: Nguyễn Văn Lục, Phi đội trưởng, Từ Đễ, Hán Văn Quảng, Hoàng Mai Vượng, Nguyễn Thành Trung và Trần Văn On. Cũng tại buổi giao nhiệm vụ, Tư lệnh Quân chủng Lê Văn Tri đặt tên cho phi đội sử dụng A-37 tấn công Sân bay Tân Sơn Nhất ngày 28/4/1975 là “Phi đội Quyết thắng”. Vào lúc 9 giờ 30, sáng 28/4/1975, Phi đội Quyết thắng rời sân bay Phù Cát tiến về Sân bay Thành Sơn (Phan Rang) để kiểm tra, chuẩn bị lần cuối cùng kỹ thuật, bom đạn, xăng dầu. Sau đó, Tư lệnh Quân chủng Lê Văn Tri cùng các thành viên Sở Chỉ huy và các phi công thống nhất quyết định chọn mục tiêu đánh. Trong các mục tiêu dự kiến như: Dinh Độc Lập, Bộ Tổng Tham mưu ngụy, Cảng Nhà Bè, Sân bay Tân Sơn Nhất… Tư lệnh Lê Văn Tri nói: “Nếu chúng ta chọn mục tiêu là cơ quan Bộ Tổng Tham mưu ngụy, chắc gì quân Mỹ đã bỏ rơi quân ngụy, do còn đường hàng không, Mỹ có thể quay trở lại gây cản trở chúng ta. Vì vậy, Bộ Tư lệnh quyết định chọn mục tiêu là Sân bay Tân Sơn Nhất, các vị trí sân đỗ máy bay, kho tàng nơi cất giấu máy bay quân sự của ngụy. Khi Sân bay Tân Sơn Nhất bị đánh sẽ làm các cơ quan còn lại của Mỹ nhanh chóng tháo lui, do lo sợ không còn đường hàng không, các đơn vị quân ngụy sẽ rúng động, góp phần sụp đổ nhanh sức kháng cự, khiến quân ngụy nhanh chóng đầu hàng”. Tư lệnh Lê văn Tri lưu ý thêm: “Khi đánh, cần quan sát không được đánh bom làm hỏng hai đường băng sân bay”. Kế hoạch tác chiến của trận đánh được xác định như sau: Sau khi cất cánh, Phi đội bay theo đường bay từ Sân bay Thành Sơn, Phan Thiết, Hàm Tân, Sân bay Tân Sơn Nhất, bay ở độ cao thấp khoảng 300 - 400m. Để giữ bí mật, trên đường đi phi công không sử dụng vô tuyến điện, chỉ được dùng ám tín hiệu. Thứ tự bay theo đội hình: Số 1 - Nguyễn Thành Trung quen địa hình chỉ thị mục tiêu, số 2 - Từ Đễ, số 3 - Nguyễn Văn Lục, số 4 - Hoàng Mai Vượng và Trần Văn On, số 5 Hán Văn Quảng bay sau cùng quan sát bảo vệ phía sau phi đội. Khi bay qua Hàm Tân nhìn thấy Sân bay Tân Sơn Nhất thì cho máy bay lên cao rồi bổ nhào vào mục tiêu. Sau khi tiếp cận mục tiêu, mỗi máy bay ném bom 2 đợt, đợt đầu 4 quả bom, đợt hai là toàn bộ cơ số còn lại, rồi nhanh chóng thoát ly. Mọi công tác đã chuẩn bị xong, đến 13 giờ chiều cùng ngày tại đài chỉ huy sân bay có Tư lệnh Quân chủng Lê Văn Tri và các cán bộ. Đại tá, phi công Nguyễn Văn Thọ ngồi ở vị trí chỉ huy máy bay cất cánh. Toàn sân bay báo động vào cấp 1, không khí căng thẳng chờ đợi. Riêng phi công báo động vào cấp 2, quần áo, giày mũ gọn gàng chờ lệnh cấp 1. Không khí trên Sân bay Thành Sơn căng thẳng và hồi hộp. Đúng 16 giờ 25 phút, Tư lệnh Binh chủng Không quân Trần Hanh lệnh cho “Phi đội Quyết thắng” xuất kích.

Phi đội xuất kích. Ảnh tư liệu. Sau khi bay vừa qua khu vực Hàm Tân, các phi công nhìn rõ mục tiêu Sân bay Tân Sơn Nhất đã kéo máy bay lên độ cao theo kế hoạch, rồi từng máy bay bổ nhào về phía mục tiêu lúc 17 giờ 5 phút. Từng loạt bom nổ, các cột lửa, khói bốc cao bao trùm Sân bay Tân Sơn Nhất. Lúc đó chỉ huy sân bay, Chuẩn tướng ngụy Hoàng Anh Tuấn bị đánh bất ngờ đã vội vàng dùng máy vô tuyến gào thét: “A-37 của không đoàn nào?”. Phi công Từ Đễ đáp lại: “A-37 của Mỹ ném bom Ngụy đây!”. Sau khi ném bom đợt 2 xong, lúc 17 giờ 22 phút, phi đội thoát ly, quay về Sân bay Thành Sơn theo tuần tự: Số 1 - Hán Văn Quảng, số 2 - Từ Đễ , số 3 - Nguyễn Văn Lục, số 4 - Hoàng Mai Vượng và Trần Văn On, số 5 - Nguyễn Thành Trung. Khi bay về gần Phan Thiết, Phi công Từ Đễ thông báo qua vô tuyến chú ý quan sát để tránh pháo cao xạ. Anh vừa dứt lời thì từ mặt đất pháo bắn lên đỏ rực, các phi công hạ thấp độ cao, bay tránh vòng ra ngoài khu vực trận địa pháo, cả phi đội bay về sân bay an toàn. Phi đội về gần Sân bay Thành Sơn, khi chuẩn bị vào hạ cánh, máy bay số 2 của Phi công Từ Đễ đèn báo xăng dầu gần hết, vì vậy phải tắt một động cơ để máy bay giảm bớt tiêu hao nhiên liệu, thông báo cho Biên đội và Sở Chỉ huy biết. Lúc đó, Phi công Hán Văn Quảng đã nhường cho máy bay Phi công Từ Đễ vào hạ cánh trước. Với kỹ thuật điêu luyện, Phi công Từ Đễ hạ cánh nhẹ nhàng, đưa máy bay vào đường lăn thì cũng là lúc máy bay hết dầu, động cơ ngừng hẳn. Cả 5 máy bay của phi đội lần lượt hạ cánh an toàn vào lúc 18 giờ 15 phút ngày 28/4/1975 tại Sân bay Thành Sơn. Kết thúc thắng lợi trận đánh lịch sử, có một không hai của Không quân nhân dân Việt Nam. Trận đánh đã phá hủy 24 máy bay quân sự của ngụy, làm thương vong hàng trăm tên sĩ quan, binh lính ngụy. Trận đánh thắng lợi đã góp phần cùng quân và dân ta giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, đồng thời lập nên một kỳ tích, ghi thêm một trang sử vàng chói lọi trong truyền thống anh hùng của Không quân nhân dân Việt Nam. Trong lễ Tổng kết Chiến dịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Văn Tiến Dũng, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội, Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh đã nhận xét đánh giá trận đánh: “Là một trận đánh phối hợp tuyệt đẹp, một trận đánh hiệp đồng quân binh chủng đầy đủ nhất từ trước tới nay của Quân đội ta vào thời điểm hết sức quan trọng, có tác động lớn đến diễn biến chiến dịch đẩy địch đến hoảng loạn”.

Phi đội Quyết thắng hoàn thành nhiệm vụ đánh bom Sân bay Tân Sơn Nhất, về hạ cánh an toàn tại sân bay Phan Rang. Ảnh tư liệu. Sau trận đánh xuống Sân bay Tân Sơn Nhất, tạo được tiếng vang lớn, đồng thời góp phần xứng đáng vào thắng lợi cuối cùng của cả dân tộc trong ngày 30/4/1975, máy bay A-37 số hiệu 0475 tiếp tục thực hiện nhiều nhiệm vụ quan trọng khác của Không quân nhân dân Việt Nam trước khi trở thành hiện vật tiêu biểu tại Bảo tàng Phòng không – Không quân./.Lương Hạnh - Bảo tàng PK-KQ



