Máy điện đài trong Chuyên án TN25
Máy điện đài trong Chuyên án TN25Chuyên án TN25 được coi là một chiến công xuất sắc của lực lượng An ninh nói riêng, Công an nhân dân nói chung thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Tại Bảo tàng Công an nhân dân hiện đang lưu giữ những máy móc điện đài thu được trong chuyên án.
Âm mưu hiểm độc Sau thất bại ở chiến dịch Biên Giới 1950, thực dân Pháp bị đẩy vào tình thế đối phó và ngày càng lúng túng. Giới quân sự đổ lỗi cho các cơ quan gián điệp không nắm được các hoạt động của lực lượng kháng chiến. Tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp quyết định cải tổ hoạt động gián điệp nhằm phục vụ các yêu cầu quân sự. Sỹ quan chỉ huy trong hệ thống gián điệp dân sự bị đẩy ra chiến trường, hàng loạt nhân viên văn phòng cũng bị đẩy xuống các đơn vị chiến đấu,... Với yêu cầu thâm nhập vào các vùng tự do, vùng căn cứ, nắm cho được chủ trương, kế hoạch tác chiến của ta, Pháp quyết định thành lập lực lượng “gián điệp biệt kích hỗn hợp nhảy dù” trực thuộc Bộ chỉ huy chiếm đóng và coi là lực lượng nòng cốt thu thập tin tức, phá hoại cơ sở kháng chiến, phục vụ cho các bước phiêu lưu quân sự cuối cùng của Pháp. Ngày 7/4/1951, Cao ủy kiêm Tổng tư lệnh quân viễn chinh Pháp tại Đông Dương De Lattre ký Quyết định số 174 thành lập Cơ quan tác chiến trực thuộc đại diện Tình báo chiến lược Pháp (SDECE) tại Đông Dương. Lực lượng GĐBK này được ngụy trang dưới cái tên Binh đoàn Biệt kích Hỗn hợp nhảy dù (Groupement de Commandó Mixtes Aeroprtes, viết tắt là GCMA) do tên Thiếu tá Grall chỉ huy. Grall nguyên là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn biệt kích nhảy dù thuộc địa số 5 (5e BCCP), Tham mưu trưởng tác chiến của Binh chủng Nhảy dù Đông Dương. Hắn có nhiều kinh nghiệm trong hoạt động gián điệp biệt kích (GĐBK) và chiến tranh du kích. Chính vì vậy, khi được cất nhắc lên vị trí chỉ huy lực lượng GCMA, Grall đã ồ ạt triển khai chi nhánh hoạt động ở các vùng trọng điểm nhằm tăng cường do thám quân sự để điều tra tình hình về cơ quan đầu não, kháng chiến, các đơn vị bộ đội chủ lực và các mục tiêu chiến lược, chiến thuật của ta. Mục tiêu trọng tâm của tình báo Pháp trong thời gian này là điều tra về bố phòng, nơi “cắm chân” của các cơ quan Đảng, Chính phủ và các đại đoàn chủ lực; sự viện trợ của các nước bạn cho Việt Nam; tình hình vận tải vũ khí, lương thực, quân sự ở vùng “thủ đô kháng chiến”, ATK… Thủ đoạn phổ biến của chúng là lợi dụng người buôn bán giữa vùng tự do với vùng tạm chiếm để mua chuộc, sử dụng họ làm gián điệp. GCMA cùng Phòng Nhì (2B) đẩy mạnh hoạt động tuyển chọn điệp viên, đưa đi huấn luyện từ 3 đến 6 tháng rồi tung vào vùng tự do hoạt động. Chuyên án TN25 Từ tháng 5/1951, cơ quan gián điệp biệt kích hỗn hợp nhảy dù (GCMA) được lệnh triển khai chi nhánh hoạt động ở các vùng trọng điểm: Lào Cai, Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Thanh Hoá... Chúng ráo riết tuyển chọn điệp viên, huấn luyện từ 3 đến 6 tháng rồi tung vào hậu phương ta hoạt động. Trong số đó có toán gián điệp nữ do Chu Thị Lan 25 tuổi làm Tổ trưởng. Hai điệp viên khác là Chu Thị Hương 22 tuổi, Lê Thị Tân 18 tuổi. Cả 3 điệp viên đều là giáo dân, quê ở xã Tam Canh, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc. Tháng 12/1952, chúng điều toán gián điệp này thâm nhập vào khu vực Thái Nguyên, Bắc Giang là cửa ngõ lên Tây Bắc và căn cứ địa kháng chiến của ta. Mọi hoạt động của toán được đặt dưới sự điều khiển của tên quan hai Bô-ca (Brocard)[1], trưởng chi nhánh GMCA ở Phúc Yên. Cả toán có nhiệm vụ thâm nhập vào hậu phương và Thủ đô kháng chiến, thu thập các tin tức về cơ quan kháng chiến, các đơn vị bộ đội, kho tàng chỉ điểm cho máy bay bắn phá. Đồng thời nắm tình hình bố phòng của lực lượng vũ trang nhằm phục vụ cho kế hoạch của Bộ chỉ huy chiếm đóng mở chiến dịch đánh chiếm Nà Sản và xây dựng cứ điểm Điện Biên Phủ. Bô-ca cung cấp tài chính để toán gián điệp mở quán bán nước và hàng nhu yếu phẩm nhằm tạo vỏ học an toàn cũng như dễ dàng mọi hỏi tin tức. Tháng 4/1953 lực lượng Công an nhân dân đã thiết lập chuyên án đấu tranh, đặt bí số TN25 (TN25 là viết tắt của 2 từ “Thái Nguyên”). Lãnh đạo Bộ Công an đã chỉ đạo phải “tương kế tựu kế”, “dùng địch đánh lại địch”. Lực lượng Công an khống chế sử dụng điện đài, điệp viên của địch cung cấp thông tin giả về trung tâm của chúng; không chút nghi ngờ địch đã cho ném bóm xuống nhiều địa điểm được lực lượng Công an chuẩn bị; đồng thời đón bắt các đối tượng mới đột nhật và thu giữ vũ khí, phương tiện điện đài chúng tiếp tế cho đồng bọn… Để lấy lòng tin của cơ quan Tình báo Pháp và quan thầy Bô-ca, Ban chuyên án thực hiện kế hoạch câu nhử. Biết phía địch đang “khát” thông tin, ta cung cấp nhiều tài liệu giả cho nhóm gián điệp này gửi về cho quan thầy. Tình báo Pháp cũng sử dụng nhiều biện pháp để thử thách độ tin cậy với các điệp viên, nhưng Ban chuyên án đều chỉ đạo điệp viên ngụy trang, tạo vỏ bọc và tình huống hợp lý. Sau khi thua đau sau Chiến dịch biên giới, quân Pháp đang rất “đói” những phi vụ có thể ghi điểm giành thế chủ động trên chiến trường. Ban chuyên án lại yêu cầu nhóm gián điệp chỉ điểm giả mạo nhiều địa điểm đóng quân của đại đoàn chủ lực và kho tàng của ta ở Thái Nguyên và Bắc Giang. Vì vậy, giai đoạn giữa năm 1953, Pháp điều nhiều máy bay ném bom vô tội vạ vào các địa điểm được mật báo. Tất nhiên các địa điểm địch ném bom chủ yếu là các khu rừng, khe suối được ta ngụy trang dựng lên vài cái lán trại và công sự giả. Để địch không nghi ngờ, ta lại cho đăng những thông tin giả bị thiệt hại, cho người phao tin đồn về Việt Minh bị thiệt hại nặng. Dấu ấn từ những hiện vật Để tiếp tục lấy thêm vũ khí, phương tiện phục vụ cho kháng chiến và đánh địch, Ban chuyên án lại yêu cầu nhóm gián điệp “kêu ca” đề nghị gửi thêm lực lượng và cung cấp thêm điện đài để hoạt động. Ngày 27/7/1953, mật thám Pháp đã điều nhân viên truyền tin Lê Thị Ngôn ra vùng tự do để tăng cường cho toán gián điệp Chu Thị Lan. Tuy nhiên, ngay tối 27/7, vừa đặt chân đến vùng Ba Giăng để móc nối với nhóm Chu Thị Lan, Lê Thị Ngôn đã bị lực lượng Công an bắt giữ, sau đó khống chế toàn bộ đường thông tin liên lạc. Cơ quan Tình báo Pháp vẫn hoàn toàn tin tưởng nhóm gián điệp do Chu Thị Lan cầm đầu đang hoạt động có hiệu quả nên tiếp tục thả dù máy truyền tin, phương tiện hoạt động cho nhóm này và bị ta thu giữ toàn bộ. Cũng trong thời gian này, 3 nữ gián điệp cũng giúp lực lượng Công an phát hiện, bắt giữ tên Nguyễn Kiên (còn gọi là Hưng) là cơ sở gián điệp Pháp đang cài cắm ở vùng tự do.
Máy phát điện của lực lượng Công an thu của toán gián điệp Pháp và được sử dụng trong chuyên án TN25. Đây là Chuyên án có ý nghĩa mở đầu công tác đấu tranh chống gián điệp biệt kích bằng phương thức phản gián điện đài, góp phần vào việc bảo vệ và phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ thắng lợi. Ngay cả sau thất bại ở Điện Biên Phủ, tình báo Pháp vẫn không hay biết gì mà tin tưởng tuyệt đối và quyết định tặng thưởng “Huân chương thập tự sắt” cho các nữ điệp viên. Khi hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết Bộ quyết định tiếp tục dùng toán gián điệp này để nắm tình hình âm mưu phương thức hoạt động của địch trong điều kiện mới. Sau khi nắm được âm mưu của địch do tên Nguyền Công Năm và Nguyễn Đăng Nhiên cầm đầu, ta chủ trương kết thúc chuyên án. Trong chuyên án TN25 lực lượng Công an khống chế sử dụng điện đài, điệp viên của địch cung cấp thông tin giả về trung tâm của chúng. Hiện vật máy phát điện là minh chứng cho sự mưu trí của lực lượng CAND trong đấu tranh chống gián điệp biệt kích bằng phương pháp phản gián điện đài. Máy phát điện quay tay được sử dụng đồng bộ cho máy thông tin liên lạc mà thực dân pháp trang bị cho gián điệp biệt kích. Máy có tốc độ quay từ 60 đến 70 vòng/phút, điện áp ra 14,4 vôn, dòng điện ra 4 am-pe. Máy phát điện quay tay chỉ cần một người mang xách, vận hành. Tháng 6/1978, Bảo tàng Công an nhân dân sưu tầm máy phát điện tại Cục Chống gián điệp. Máy phát điện có số đăng ký 429/KL.178 màu xám chất liệu kim loại, kích thước 20cm x 17,5cm x 10,5cm. Máy phát điện đã cũ, hỏng, bị han rỉ. Hiện vật được trưng bày tại chủ đề “Lực lượng Công an trong kháng chiến chống Pháp”, hiện vật như một minh chứng về âm mưu, tội ác của thực dân Pháp; góp phần khẳng định thắng lợi của lực lượng CAND trên lĩnh vực chống gián điệp và là chuyên án mở đầu trong áp dụng chiến thuật “dùng người của địch, phương tiện của địch để đánh lại địch” và nâng tầm thành nghệ thuật trong các chuyên án gian điệp biệt kích sau này trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. [1] Bô-ca nói tiếng Việt giỏi như người Việt và cũng là một chuyên gia tình báo lão luyện.
Máy phát điện của lực lượng Công an thu của toán gián điệp Pháp và được sử dụng trong chuyên án TN25. Đây là Chuyên án có ý nghĩa mở đầu công tác đấu tranh chống gián điệp biệt kích bằng phương thức phản gián điện đài, góp phần vào việc bảo vệ và phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ thắng lợi. Ngay cả sau thất bại ở Điện Biên Phủ, tình báo Pháp vẫn không hay biết gì mà tin tưởng tuyệt đối và quyết định tặng thưởng “Huân chương thập tự sắt” cho các nữ điệp viên. Khi hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết Bộ quyết định tiếp tục dùng toán gián điệp này để nắm tình hình âm mưu phương thức hoạt động của địch trong điều kiện mới. Sau khi nắm được âm mưu của địch do tên Nguyền Công Năm và Nguyễn Đăng Nhiên cầm đầu, ta chủ trương kết thúc chuyên án. Trong chuyên án TN25 lực lượng Công an khống chế sử dụng điện đài, điệp viên của địch cung cấp thông tin giả về trung tâm của chúng. Hiện vật máy phát điện là minh chứng cho sự mưu trí của lực lượng CAND trong đấu tranh chống gián điệp biệt kích bằng phương pháp phản gián điện đài. Máy phát điện quay tay được sử dụng đồng bộ cho máy thông tin liên lạc mà thực dân pháp trang bị cho gián điệp biệt kích. Máy có tốc độ quay từ 60 đến 70 vòng/phút, điện áp ra 14,4 vôn, dòng điện ra 4 am-pe. Máy phát điện quay tay chỉ cần một người mang xách, vận hành. Tháng 6/1978, Bảo tàng Công an nhân dân sưu tầm máy phát điện tại Cục Chống gián điệp. Máy phát điện có số đăng ký 429/KL.178 màu xám chất liệu kim loại, kích thước 20cm x 17,5cm x 10,5cm. Máy phát điện đã cũ, hỏng, bị han rỉ. Hiện vật được trưng bày tại chủ đề “Lực lượng Công an trong kháng chiến chống Pháp”, hiện vật như một minh chứng về âm mưu, tội ác của thực dân Pháp; góp phần khẳng định thắng lợi của lực lượng CAND trên lĩnh vực chống gián điệp và là chuyên án mở đầu trong áp dụng chiến thuật “dùng người của địch, phương tiện của địch để đánh lại địch” và nâng tầm thành nghệ thuật trong các chuyên án gian điệp biệt kích sau này trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. [1] Bô-ca nói tiếng Việt giỏi như người Việt và cũng là một chuyên gia tình báo lão luyện.


