MÁY TRƯỞNG TÀU 41 VÀ NHỮNG HẢI TRÌNH VÀO VŨNG RÔ
Sự chuyển mình từ tàu gỗ sang tàu sắt và chuyến vận chuyển vũ khí lịch sử chi viện cho chiến trường Khu 5 tại bến Vũng Rô (Phú Yên).

Sự chuyển mình từ tàu gỗ sang tàu sắt và chuyến vận chuyển vũ khí lịch sử chi viện cho chiến trường Khu 5 tại bến Vũng Rô (Phú Yên).
Máy trưởng Phan Nhạn trên Tàu 41 (Đoàn 125 Hải quân), phối hợp cùng Thuyền trưởng Hồ Đắc Thạnh.
Bước sang giai đoạn 1964-1965, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở miền Nam bước vào giai đoạn quyết liệt. Chiến trường Khu 5 cần một lượng lớn vũ khí hạng nặng để đập tan các cuộc phản công của địch. Yêu cầu lịch sử đòi hỏi Đoàn 125 Hải quân phải nâng cấp phương tiện vận tải từ các tàu gỗ nhỏ thô sơ sang các tàu vỏ sắt có tải trọng lớn hơn. Bấy giờ, Phan Nhạn được tin tưởng giao nhiệm vụ Máy trưởng trên Tàu 41 – một trong những con tàu sắt hiện đại nhất của đoàn thời bấy giờ.
Tàu 41 do Thuyền trưởng Hồ Đắc Thạnh chỉ huy, Chính trị viên Trần Hoàng Chiếu cùng đội ngũ thủy thủ dày dặn kinh nghiệm. Chuyến đi lịch sử đầu tiên của Tàu 41 nhắm vào một bến bãi hoàn toàn mới vô cùng hiểm trở: bến Vũng Rô thuộc tỉnh Phú Yên. Đêm 16 tháng 11 năm 1964, Tàu 41 rời bến mang theo 16 cán bộ, chiến sĩ và hơn 45 tấn vũ khí đạn dược.
Hải trình kéo dài 12 ngày đêm là 12 ngày đêm đọ trí, đọ sức nghẹt thở với hệ thống tuần tra dày đặc của địch. Máy bay trinh sát và hạm đội tuần tra của địch lượn lờ khắp vùng biển miền Trung. Là máy trưởng, Phan Nhạn phải điều khiển hệ thống động cơ sao cho tàu vận hành êm ái nhất, tránh tạo ra vệt sóng quá lớn hoặc tiếng ồn dễ bị sóng siêu âm của địch phát hiện. Khi phát hiện máy bay địch ở khoảng cách xa, ông phải nhanh chóng phối hợp với cabin để điều chỉnh tốc độ, tạo dáng như một con tàu buôn đang di chuyển bình thường trên tuyến hàng hải quốc tế.
Sự chính xác và nhịp nhàng trong công tác cơ điện của Phan Nhạn đã góp phần quan trọng giúp Tàu 41 vượt qua hàng ngàn hải lý an toàn, tiếp cận bến Vũng Rô vào ngày 28 tháng 11 năm 1964. Việc Tàu 41 mở bến Vũng Rô thành công đã giáng một đòn bất ngờ vào hệ thống phòng thủ của địch, cung cấp hỏa lực kịp thời cho các chiến dịch lớn của quân và dân Khu 5.



