MẤY VẤN ĐỀ VỀ NGHỆ THUẬT SỬ DỤNG PHÁO BINH TRONG MÙA XUÂN 1975
MẤY VẤN ĐỀ VỀ NGHỆ THUẬT SỬ DỤNG PHÁO BINH TRONG MÙA XUÂN 1975
Đến cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, nghệ thuật sử dụng pháo binh đã phát triển đến mức cao nhất trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Đó là nghệ thuật sử dụng pháo binh trong những chiến dịch hiệp đồng binh chủng quy mô lớn kết hợp với phong trào nổi dậy của quần chúng trước thời cơ lịch sử mới đầy tính biến động về chiến lược, chiến dịch và chiến đấu, nhằm kết thúc thắng lợi chiến tranh giải phóng.
Sau đây là mấy vấn đề chủ yếu trong nghệ thuật sử dụng pháo binh:
1. Nắm vững quy luật của chiến tranh giải phóng, khẩn trương xây dựng lực lượng pháo binh mạnh, đáp ứng yêu cầu tác chiến hiệp đồng binh chủng quy mô lớn trong giai đoạn kết thúc chiến tranh
Một vấn đề nổi bật về sử dụng pháo binh trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 là ngoài việc hoàn chỉnh hệ thống pháo binh ở các cấp, ta đã nhanh chóng phát triển lực lượng pháo binh xe kéo lớn mạnh đáp ứng kịp thời yêu cầu của thời cơ chiến lược, phù hợp với quy luật chiến tranh giải phóng ở giai đoạn kết thúc chiến tranh.
"Quy luật chiến tranh cách mạng là từ những đơn vị nhỏ ban đầu phát triển thành những binh đoàn lớn tác chiến hiệp đồng binh chủng để tiêu diệt lớn lực lượng địch và cuối cùng phải đánh vào thành phố, đánh vào đầu não và đập tan chính quyền địch, mới đánh gục được địch, giải phóng Tổ quốc". Xuất phát từ quy luật trên, tác chiến hiệp đồng binh chủng đã trở thành xu thế tất yếu trong giai đoạn kết thúc của chiến tranh giải phóng. Từ đó đòi hỏi phải xây dựng những binh đoàn binh chủng hợp thành có đủ thành phần binh chủng kỹ thuật với sức đột kích lớn, cơ động cao, hỏa lực mạnh, có khả năng chiến đấu liên tục và tiêu diệt lớn quân địch.
Nói đến tác chiến hiệp đồng binh chủng, không thể không nói đến pháo binh. Quy mô tác chiến hiệp đồng càng lớn thì hỏa lực pháo binh càng phải mạnh, tổ chức và trang bị kỹ thuật pháo binh càng phải được hoàn thiện, trong đó sự phát triển pháo binh xe kéo có ý nghĩa quyết định.
Lịch sử hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ đã chứng minh điều đó. Thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp gắn liền với sự xuất hiện trung đoàn pháo binh xe kéo đầu tiên của quân đội ta.
Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, mỗi trận đánh, mỗi chiến dịch hiệp đồng binh chủng như Làng Vây, Khe Sanh (1968), Đường 9 - Nam Lào (1971), Quảng Trị, Tây Nguyên, Bình Long (1972), Phước Long (1974) cho đến cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 đều gắn liền với sự trưởng thành và hoạt động của pháo binh xe kéo từ nhỏ đến lớn.
Đây là một vấn đề có tính quy luật của tổ chức lực lượng vũ trang nhân dân ta, trong đó có lực lượng pháo binh. Năm 1954 - 1960, lực lượng ta ở miền Nam chưa có pháo; đến năm 1960 - 1964, có súng cối lực lượng vũ trang ta đã góp phần đánh bại chiến lược chiến tranh đặc biệt; năm 1968, có súng cối và hỏa tiễn lực lượng vũ trang ta đã góp phần đánh bại chiến lược "chiến tranh cục bộ"; từ năm 1968, ở các chiến trường đã bắt đầu phát triển pháo binh cơ giới, đến năm 1972 pháo binh cơ giới đã phát huy vai trò của mình trên cả ba chiến trường Trị - Thiên, Bắc Tây Nguyên, Đông Nam Bộ.
Sự hình thành lực lượng pháo binh xe kéo lớn mạnh đáp ứng yêu cầu của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 là kết quả của một quá trình đấu tranh giải quyết nhận thức cũng như chuẩn bị về tổ chức lực lượng cụ thể qua các thời kỳ lịch sử của chiến tranh.
Năm 1968, trong điều kiện gặp nhiều khó khăn về đường cơ động, đạn dược, nhiên liệu, ta đưa pháo xe kéo vào Khe Sanh, vừa đánh vừa rút kinh nghiệm. Năm 1972, khi đã giải quyết được hệ thống đường cơ động, ta kiên quyết đưa pháo xe kéo và sử dụng trên các chiến trường trọng điểm, mở ra triển vọng to lớn sử dụng rộng rãi pháo binh xe kéo trên chiến trường miền Nam. Từ giữa năm 1973 trở đi, trước tình hình phát triển thuận lợi của cách mạng miền Nam, song song với việc hình thành các binh đoàn chiến dịch và chuẩn bị cho việc thành lập các quân đoàn mới, ta đã phát triển vượt bậc lực lượng pháo binh xe kéo. Cho đến cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, số lượng pháo binh xe kéo được sử dụng đã lên tới trên 20 trung đoàn, lữ đoàn, gồm 67 tiểu đoàn. Đây là bước phát triển nhảy vọt, tạo nên sức mạnh rất lớn của hỏa lực pháo binh mà nòng cốt là hỏa lực pháo binh xe kéo trong cuộc Tổng tiến công chiến lược.



