Mẹ Anh hùng Phạm Thị Ngư
Phạm Thị Ngư (1912 – 2002) là người được Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam trao tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Bà sinh ra ở xã Hàm Hiệp, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận, trú tại xã Phong Nẫm, thành phố Phan Thiết.
Phạm Thị Ngư sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo. Cha mẹ mất sớm, từ nhỏ bà phải lao động vất vả để kiếm sống cơ cực như mọi người phụ nữ nghèo tại quê hương Hàm Thuận. Lớn lên, bà lập gia đình cùng ông Bùi Dinh, cũng là thanh niên nghèo khổ, di dân từ Bình Định vào sinh sống tại đây. Vợ chồng bà sinh được 8 người con cả trai lẫn gái.
Hoạt động cách mạng
Những năm đầu kháng chiến chống Pháp, gia đình bà là cơ sở nuôi dấu cán bộ cách mạng. Cả hai vợ chồng bà đều hăng hái tham gia các đoàn thể cứu quốc của mặt trận Việt Minh. Bà còn là Tổ trưởng Tổ phụ nữ chuyên vận động bà con quyên góp tiền bạc, thuốc men, lương thực, thực phẩm ủng hộ bộ đội kháng chiến.
Hầm bí mật nhà bà là nơi ẩn náu của các chiến sĩ Đội cảm tử Phan Thiết - cũng là đầu mối liên lạc của cán bộ hoạt động giữa vùng du kích và vùng sau lưng địch.
Năm 1952, người con cả là Bùi Văn Thành tròn 18 tuổi, bà Ngư bàn với chồng đưa con gia nhập “Bộ đội cụ Hồ”. Tham gia quân đội, anh Thành chiến đấu dũng cảm, lập nhiều chiến công. Năm 1954, anh ra Bắc tập kết.
Dưới chế độ Mỹ – Ngụy, sống cảnh “cá chậu chim lồng”, bà vẫn một lòng tin tưởng vào cách mạng, tin tưởng ngày độc lập, bà vững lòng nuôi dạy con cái theo chí hướng của mình.
Năm 1960, chồng bà qua đời, một mình bà tiếp tục cáng đáng công việc đồng áng và nuôi dạy con nên người. Năm 1961, nối được liên lạc với cơ sở cách mạng, bà đưa đứa con thứ hai là Bùi Văn Trung lên căn cứ tham gia công tác. Bà ở lại cùng các con tiếp tục làm cơ sở bí mật ở vùng ven.
Thời kỳ này, thanh niên đến tuổi 17 - 18 lập tức bị bọn tay sai lùng bắt đi quân dịch. Chính vì phải đi lính, làm tay sai cho giặc bắn giết đồng bào, chiến sĩ của mình nên hầu hết thanh niên (kể cả nữ thanh niên) đều sớm thoát ly gia đình vào căn cứ tham gia kháng chiến khi mới 15 - 16 tuổi.
Tháng 5 năm 1961, anh Bùi Văn Thành, người con trai lớn của bà, trở về quê hương chiến đấu và anh dũng hy sinh trong một trận đánh ác liệt. Nghe tin con hy sinh như sét đánh bên tai, có nỗi đau nào hơn nỗi đau của người mẹ mất con… Nhưng với bản lĩnh kiên cường và lòng căm thù giặc sâu sắc, bà đã nén đau thương, quyết chí đem hết tinh thần nghị lực để làm tốt nhiệm vụ cao cả mà cách mạng đã giao và động viên 6 đứa con còn lại lần lượt lên đường chiến đấu chống Mỹ - Ngụy, cứu nước, cứu quê hương.
Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968, bà là một nữ giao liên xông xáo đưa dẫn đường cho bộ đội tấn công nhiều cứ điểm quân địch và vận động đồng bào tiếp tế cứu chữa thương binh.
Có hôm đang cầm dở chén cơm định ăn qua loa, hay tin báo làm nhiệm vụ đưa đường cho đội cảm tử tiếp cận mục tiêu chiến đấu trong nội đô, bà bỏ chén lao đi quên cả đói. Bản thân bà đã tìm cách giải thoát 2 nữ chiến sĩ bị địch bắt và móc nối cơ sở đưa ra vùng căn cứ an toàn.
Từ năm 1969 trở đi, địch đánh phá vùng ven rất ác liệt. Trước tình hình đó, bà tích cực hoạt động liên tục đi về, chắp nối liên lạc giữa cán bộ bên ngoài và cơ sở nội thị, thức đêm canh gác để cán bộ đào hầm bí mật ngay trong vườn nhà mình làm nơi trú chân hoạt động.
Suốt 7 - 8 năm liền, với sự mưu trí, khôn khéo, bà cùng bà con cơ sở chuyển ra vùng căn cứ giải phóng nhiều tấn lương thực, thực phẩm, thuốc men tiếp tế cho cách mạng, góp phần đáng kể vào thắng lợi của sự nghiệp chống Mỹ ở địa phương.
Được phong tặng danh hiệu "Bà mẹ Việt Nam anh hùng"
Với thành tích đặc biệt xuất sắc trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu, ngày 6 tháng 11 năm 1978, bà đã được Quốc hội và Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân và ngày 11 tháng 7 năm 1985, bà được Hội đồng Nhà nước tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhất.
Không chỉ tích cực hoạt động cách mạng ngay tại quê hương mình, bà còn cống hiến 8 người con thân yêu của mình cho nền độc lập tự do của Tổ quốc. Ngày 17 tháng 12 năm 1994, bà được Nhà nước phong danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Bà mất năm 2002.



