Mẹ Việt Nam Anh hùng

Mẹ chôn sống con để cả làng thoát chết

Mẹ chôn sống con để cả làng thoát chết

Đồng Tháp24/02/2026Đoàn khoa Giáo Dục Tiểu học - Mầm non (Đoàn Trường Đại học Đồng Tháp)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Đề Án Câu chuyện thời hoa lửa

1. Thông tin của tác giả

Họ và tên: Phan Thị Mỹ Tuyên

Ngày sinh: 22/03/2006

Số điện thoại cá nhân: 0357776417

Email: ptmytuyen220306@gmail.com

2. Thông tin trường

Lớp: ĐHGDTH24C, Khoa Giáo dục Tiểu học - Mầm non, Trường Đại học Đồng Tháp

Địa chỉ: 783 Phạm Hữu Lầu, Phường 6, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp

3. Thông tin nhân chứng

Họ và tên đầy đủ: Lê Thị Nghê

Năm sinh: 1935

Danh hiệu: Bà mẹ Việt Nam anh hùng mà Đảng, Nhà nước trao tặng cho các bà mẹ có nhiều cống hiến, hy sinh cho đất nước.

Lê Thị Nghê (sinh năm 1935)

Mẹ chôn sống con để cả làng thoát chết

Chồng hi sinh ngoài chiến trường để lại cho bà hai đứa con nhỏ. Không còn ai thân thích, bà xem hai đứa trẻ như báu vật. Nhưng trước sự lùng sục và tàn sát man rợ của lính Mỹ, người mẹ ấy phải chấp nhận hy sinh đứa con nhỏ để cứu tính mạng hàng trăm bà con.

Nỗi đau từ chiến tranh

Người mẹ vĩ đại ấy là Lê Thị Nghê (Năm Nghê) năm nay đã bước sang tuổi 80, sinh sống tại thôn Linh Kiều (Hiệp Hòa, huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam). Những người chứng kiến cảnh bà Năm Nghê chôn đứa con trai 4 tháng tuổi ở thôn Linh Kiều chỉ còn đếm trên đầu ngón tay. Nhưng mỗi khi nhắc lại sự việc đau đớn này, ai cũng nhớ như in. Ông Trần Hùng (người trú trong hang với bà Nghê lúc đó) kể lại: “Nếu không có chị Nghê chắc tôi đã không được sống đến ngày hôm nay. Vì chúng tôi, chị ấy phải trả cái giá quá đắt. Từ ngày đứt từng khúc ruột giết chết đứa con, tâm trí chị không thể nào bình thường được nữa. Vì ám ảnh triền miên mà nhiều năm qua, chị cứ tỉnh điên lẫn lộn. Chiếc khăn của đứa con ngày xưa, đến nay chị vẫn còn giữ. Đêm cũng như ngày, khi mộng mị, chị lại bế chiếc khăn đó hát ru. Rồi có khi, chị lại đốt nhang, một mình vào rừng miệng nói lẩm bẩm đi tìm mộ con. Mỗi lần nhìn chị như vậy, chúng tôi vô cùng xót xa”.

Đứa trẻ chết để cả làng được sống

Đi từ khu vực chợ Hiệp Hòa xuôi về phía thượng nguồn sông Thu Bồn, chỉ cần thăm hỏi tên Năm Nghê, người dân nào cũng sốt sắng tận tình dẫn đường.

Ông Trần Quang Tiến, trưởng thôn Linh Kiều nói với giọng kính trọng: “Những đứa trẻ cũng biết bà. Từng tự tay chôn sống con, thương bà vô cùng. Vì ám ảnh đó mà mấy mươi năm qua, bà sống không ra sống, cứ điên dại nửa tỉnh nửa mê. Có đêm nhớ con, bà Nghê băng sông, mang nhang đi khắp rừng khấn vái tìm kiếm”.

Cuộc đời bà Nghê rẽ ngoặt sang hướng tối tăm, vào một đêm mưa gió đầu tháng 10/1969, Mỹ rải hàng chục tấn bom xuống tàn phá thôn nghèo. Trong chiến tranh, thôn có tên Trà Linh, thuộc xã Quế Tân, huyện Quế Tiên, tỉnh Quảng Nam (sau giải phóng mới đổi tên thành Linh Kiều, thuộc xã Hiệp Hòa, huyện Hiệp Đức như bây giờ).

Vùng thượng nguồn sông Thu Bồn được coi như chiếc nôi cách mạng, nên nơi đây cũng là tâm điểm để giặc Mỹ thường đổ quân đến càn quét. Sau chiến dịch Mậu Thân 1968, Mỹ tăng cường đánh phá vùng rừng núi và trung du các tỉnh miền Trung.

Bộ đội và du kích xã Quế Tân anh dũng chiến đấu, bắn rơi một máy bay, bắn cháy hai tàu chiến, tiêu diệt hơn 50 lính Mỹ. Giặc điên cuồng trả thù, sáng một ngày đầu tháng 10/1969 cho máy bay rải thảm bom, điều tàu chiến ngược sông Thu Bồn, huy động lính thủy quân lục chiến hủy diệt vùng căn cứ cách mạng.

Bà Nghê dắt con gái Lê Thị Liên (4 tuổi) và con trai Lê Tân (3 tháng tuổi) đi cùng với 200 người dân thôn Linh Kiều, theo cán bộ và du kích vào ẩn náu trong hang Hòn Kẽm. Giặc cho pháo bầy, đại liên, máy bay, tàu chiến... vãi đạn vào núi dọn đường để mở cuộc tìm kiếm tàn sát dân làng.

Chưa lần ra nơi trú ẩn của dân làng, giặc càng điên cuồng khoanh vùng, sục sạo từng mét đất, bới từng ngọn cỏ, bắn phá ác liệt hơn. Lúc này, ngoài chịu đựng cơn đói, hàng trăm người dân trú ẩn còn phải tuyệt đối im lặng để tránh bị giặc phát hiện, giết chết. Đứa bé 3 tháng tuổi còn quá nhỏ, mẹ đói quay quắt nên con cũng đói sữa. Ngày đêm đứa trẻ cứ khóc thét, dỗ kiểu gì cũng không chịu nín. Đêm 8/10/1969, trời vẫn mưa, tiếng súng đì đùng ngày một gần, tiếng trẻ càng ngằn ngặt khóc vọng ra phía ngoài hang. Hàng trăm gương mặt hốc hác toát lên nỗi lo sợ, bàng hoàng hướng mắt về phía mẹ con bà Năm Nghê. Thiếu phụ ôm chặt núm ruột đang ngằn ngặt khóc vào lòng, rồi đi đến một quyết định bất ngờ: “Mẹ không muốn giết con, nhưng để dân làng được sống, con phải chết..”. Thiếu phụ vội cởi chiếc áo quấn con lại, ôm con bò lên khỏi miệng hang. Mặc cho mưa rơi hòa lẫn nước mắt, bà dùng hai tay móc đất ướt lạnh chôn sống đứa con. Dưới ánh chớp của đạn pháo sáng, thấy lớp đất đang rục rịch, biết con quẫy đạp, người mẹ vẫn gạt nước mắt xóa dấu mặt đất. Vừa kịp tiếng lao xao của giặc tới gần, bà lao vào hang, cắn bật máu môi để không bật ra tiếng khóc.

Ám ảnh cả đời

Cuộc đời bà Năm Nghê tan nát vì giặc Mỹ. Gia đình có 8 anh em, 7 người đều chết do trúng đạn B52. Sau đêm buộc phải chôn sống con, người mẹ thường xuyên u uất, sinh bệnh tật, sức khỏe yếu dần.

Thời gian đầu, một phần gắng gượng vượt chiến tranh loạn lạc, phần còn con gái nhỏ dại, bà nén lại đau khổ, gắng gượng làm lụng nuôi con. Không còn ai thân thích, trong căn nhà tạm bợ, cuộc sống của mẹ con bà Nghê luôn dưới mức nghèo khổ.

Năm 25 tuổi, con gái bà kết hôn với một người làng bên, cùng cảnh đói rách, sinh liền 5 đứa con, vợ chồng con cái đưa nhau lên tận các bãi vàng Phước Sơn đào đãi, làm thuê kiếm sống. Không thể giúp được gì cho con gái, con gái cũng không thể giúp gì được mẹ, từ đó bà Nghê sống lủi thủi một mình trong căn nhà tạm bợ.

Nỗi ám ảnh cái đêm kinh hoàng giết con ngày càng bùng phát, khiến bà có dấu hiệu điên tỉnh lẫn lộn. Trước tình cảnh trên, vợ chồng chị Liên ra sức khuyên bà về sống cùng, cắt cử nhau người đi làm, người ở nhà trông mẹ. Thời gian sau, các cháu lớn dần, phụ giúp thêm việc canh giữ, nhưng vẫn không cản được bước chân của bà lão.

Bà lão ngày ngày luôn miệng lẩm bẩm “phân trần” với con cháu và xóm làng: “Thằng Tân được mẹ mang lên miệng hầm chôn, nhưng 3 ngày sau thì mất dấu mộ rồi”.

Bà hóa điên, ngày ngày ôm chiếc khăn từng quấn con trai ngày xưa, đi khắp làng trên xóm dưới hát ru. Đêm mưa gió, bà lại đốt nhang, một mình vào rừng miệng thì thào “phải tìm được mộ con”.

Cứ sau mỗi lần lang thang như vậy, bà lại đau một trận thừa sống thiếu chết, hết tai biến, đến gãy tay chân, nhiều khi nằm viện cả tháng trời. Để an lòng mẹ, mới đây gia đình được các đoàn thể giúp đỡ góp 3 triệu đồng xây ngôi mộ gió trước cửa hang núi Hòn Kẽm.

Đôi khi tỉnh táo, bà thẫn thờ rớt nước mắt: “Vì phải giết con, lại không tìm thấy xác nên tôi mới bị “trời hành”, muốn chết cũng không xong. Đói khổ, rách nát, ăn bốc ăn hốt dưới đất thế nào tôi cũng chịu, chỉ là đừng ai cản tôi đi tìm thằng Tân”.

Rất nhiều lần con gái làm đơn xin trợ cấp cho mẹ, nhưng ngành lao động - thương binh và xã hội các cấp đều trả lời “không biết xếp bà Nghê vào diện chính sách gì”. Do đó, tới năm nay, khi bước qua tuổi 80, bà Nghê mới chính thức có được 180.000 tiền trợ cấp người già.

Danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng mà Đảng, Nhà nước trao tặng cho các bà mẹ có nhiều cống hiến, hy sinh cho đất nước. Nhưng hành động của bà Lê Thị Nghê và bà Lê Thị Tịch, một quyết định chưa từng có trong lịch sử, dũng cảm hy sinh hai đứa con của mình để cứu hàng trăm cán bộ, du kích, nhân dân… trong kháng chiến chống Mỹ ở tỉnh Quảng Nam cần được xem xét tôn vinh.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn