mẹ Đặng Thị Tiêm - Bà mẹ Việt Nam anh hùng
Năm 1997 này, mẹ Đặng Thị Tiêm - Bà mẹ Việt Nam anh hùng, đã bước sang tuổi 82. Mẹ sống giản dị trong ngôi nhà còn đơn sơ ở phường Nam Sơn, quận Kiến An. Ở tuổi xế bóng của cuộc đời, nỗi đau mất mát và tháng ngày gian khó còn hằn sâu trên mỗi nếp nhăn của gương mặt, đọng lại trong từng bước đi của mẹ. Đâu đó còn phảng phất nỗi niềm tâm sự, cái khát khao hạnh phúc đời thường. Tâm sự với chúng tôi, thi thoảng mẹ lại khẽ cười, nụ cười còn sót lại của thời con gái, lấp lánh niềm tự hào của một người vợ, người mẹ biết nhẫn lại, hy sinh cho Độc lập - Tự do của dân tộc. 50 năm, nửa thế kỷ đã qua, nhưng tới nay trong tâm trí mẹ vẫn in đậm kỷ niệm về cuộc tiễn đưa đầu tiên của đời mình. Đó là một đêm đầu mùa đông năm 1947, mẹ tiễn đưa chồng, vốn là du kích tham gia từ những ngày đầu kháng chiến ở quê hương, vào bộ đội lên đường đi kháng chiến chống Pháp xâm lược. Đêm ấy cũng như bao đêm của những ngày đầu mùa đông giá lạnh, mẹ nắm bàn tay thô ráp nhưng ấm áp của chồng rồi ghé sát vào tai chồng, thỏ thẻ: - Mình ơi! Mình sắp được làm bố rồi đấy. Mình nán lại ở nhà với em vài tuần nữa. Đợi ngày con ra đời rồi mình hãy lên đường. Đàn bà vượt cạn mà vắng chồng thì cực lắm anh ơi. Nghe nói vậy, ông Sét xúc động rồi điềm tĩnh giảng giải cho vợ: Giặc Pháp có chờ mình sinh xong con rồi mới gây hấn, mới xâm lược nước nhà đâu? Nó đã dã tâm quay lại thôn tính nước ta lần nữa. Bác Hồ đã kêu gọi toàn quốc kháng chiến, cứu nước. Tổ chức đã bố trí xong cả rồi. Sớm mai tôi vẫn đi như đã định. Mình ở nhà, gắng giữ gìn sức khỏe, đừng tham làm việc nặng mà ảnh hưởng đến con. Mình đi vắng thì đã có bà con, chị em nội ngoại, xóm làng đỡ đần khi mình sinh nở, ở cữ. Có lẽ gần ngày sinh con, mình xin phép bố mẹ về quê ngoại để sinh con ở đó cũng được. Chị em gái dễ thông cảm, đùm bọc, đỡ đần nhau hơn. Sinh con trai hay con gái mình cứ đặt tên cho con là Hoan. Bố là Sét đi chiến đấu, giáng sấm sét lên đầu kẻ thù. Con là Hoan, nghĩa là mẹ con ở nhà hân hoan chờ đón tin vui thắng trận. Hai vợ chồng hàn huyên tâm sự cho tới khi tiếng gà gáy canh ba, mẹ mới rón rén trở dậy. Mẹ gói lại bộ quần áo vải nâu của chồng, nắm một nắm cơm nếp và một nhúm muối vừng. Tất cả được cho vào chiếc tay nải bằng vải gụ cũ mẹ mới khâu vội chập tối. Gần sáng mẹ tiễn ông ra tận đầu làng. Cánh đồng lúa vụ mùa của xã Ngũ Đoan, quê chồng mẹ, ngày đó đang uốn câu vào mẩy, chuẩn bị cho thu hoạch. Sóng lúa dạt dào, phảng phất mùi hương thơm của lúa đầu mùa. - Trời đêm nay lạnh quá. Mình về nhà đi. Tôi đi nhé. Bao giờ kháng chiến thành công, tôi lại về với mẹ con mình. Mẹ đứng đó bên lũy tre làng, bồi hồi chờ bóng ông Sét khuất hẳn trong làn sương đêm, rồi mới chậm chạp bước từng bước về nhà. Sau hơn một tháng tiễn đưa chồng đi kháng chiến, cậu con trai duy nhất của mẹ đã cất tiếng khóc chào đời. Nhớ lời chồng dặn, mẹ đặt tên con là Vũ Văn Hoan. Gia cảnh nghèo túng, chưa hết cữ mẹ đã sớm hôm ngoài đồng để kiếm hạt gạo, củ khoai, thay chồng nuôi con. Ngày ngày đi làm thuê, làm mướn, đêm đêm về nhà quấn quýt bên con, lòng mẹ hằng khát khao trông đợi ngày chiến thắng ông Sét trở về cùng gây dựng cuộc sống gia đình hạnh phúc, ấm êm. Năm tháng qua đi, nỗi chờ mong của mẹ ngày một dày thêm. Ngày 13-5- 1955, Hải Phòng - Kiến An quê hương mẹ được hoàn toàn giải phóng. Cả miền Bắc không còn bóng quân xâm lược. Khắp các xóm thôn cờ đỏ tung bay, tiếng nói cười rộn rã chào đón quê hương giải phóng. Trong niềm hân hoan đó, mẹ lại càng khao khát phút giây người bạn đời trở về. Nhưng ông Sét đã ra đi mãi mãi. Ông ngã xuống trong một trận bao vây tấn công đồn giặc ở chiến trường xa từ tháng 5- 1952. Nhận tin đó lòng mẹ quặn đau. Thì ra cái đêm đưa tiễn chồng đi kháng chiến năm ấy lại chính là cái đêm ly biệt. Vật vã trong nỗi đau thương nhớ, mẹ tưởng như khó có thể còn sống nổi trên cõi đời này. Nhưng với tình thương bao la như trời biển của người mẹ đối với đứa con còn dại khờ, giọt máu cuối cùng của người chồng, mẹ đã gắng vượt lên mọi gian lao, vất vả để nuôi dạy con khôn lớn thành người. Chưa đầy 40 tuổi và mới có một con nhưng mẹ nguyện không đi bước nữa, ở lại thờ chồng, nuôi con. Cái đó, cái nghèo, cái khó luôn níu kéo, giằng xé lòng mẹ. Hoan, cậu con trai càng lớn, càng giống cha như đúc, là niềm vui, niềm hạnh phúc đã tiếp thêm sức mạnh cho mẹ vững vàng vượt lên thử thách của đời thường. Mẹ dành tất cả tình thương yêu, miếng ăn ngon, tấm áo mới cho Hoan và đưa Hoan đến lớp học hành cùng chúng bạn. Vậy mà khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa ngày một gay go, quyết liệt thì mẹ lại động viên Hoan lên đường đi chiến đấu. Là con trai duy nhất của liệt sĩ chống Pháp, Vũ Văn Hoan không thuộc diện động viên nhập ngũ ngày đó. Vâng lời Bác Hồ, nghe theo tiếng gọi của Đảng anh đã trích máu viết đơn tự nguyện nhập ngũ, xin đi chiến đấu để đền nợ nước, trả thù cho cha. Chính quyền địa phương cũng như các đồng chí làm công tác chính sách đã hết lời khuyên giải, nhưng anh vẫn nằng nặc đòi nhập ngũ bằng được. Anh đã triết lý với người vận động mình ở lại: - Cháu hỏi các bác, các chú, dù con liệt sĩ, con độc nhất thì cũng là người, là thanh niên trong lúc đất nước có chiến tranh. Quân thù nó có chừa một ai đâu. Nước còn giặc thì tuổi trẻ phải đi đầu xông pha đánh giặc. Cứ nói là ưu tiên gia đình chính sách, sao các bác, các chú không ưu tiên cho cháu được đi chiến đấu để trả thù cho cha cháu. Các đồng chí làm công tác chính sách đành phải xin ý kiến của mẹ Hoan. Hiểu rõ tính tình của con, đã nghĩ là làm, đã đi là đến, hệt như tính của cha. Nó xin nhập ngũ có lý do chính đáng là để đền nợ nước, trả thù cho cha, cớ sao lại giữ nó ở nhà. Nghĩ vậy mẹ vui lòng cho Hoan lên đường đi chiến đấu. Hoan nhập ngũ vào mùa đông năm 1965 và vào chiến trường miền Nam, chỉ còn lại mình mẹ sống trong ngôi nhà tranh đơn sơ. Vẫn ngôi nhà ấy, mẹ cảm thấy như rộng hẳn ra, trống vắng làm sao! Mẹ vừa lao động sản xuất, cùng bà con xã viên xây dựng hợp tác xã nông nghiệp làm ra nhiều thóc gạo chi viện cho chiến trường, vừa tham gia Hội mẹ chiến sĩ. Hoạt động công tác đoàn thể, xã hội ngoài trách nhiệm của người vợ liệt sĩ, người mẹ chiến sĩ, còn là nguồn vui của mẹ. Không quản xa xôi, bom đạn của máy bay Mỹ, mẹ thường tới các trận địa pháo cao xạ thăm hỏi, động viên các chiến sĩ bắn máy bay thù. Khi thì mẹ nấu nước, khi thì nhận quần áo của các chiến sĩ đưa về giặt, khâu vá để hôm sau lại mang đến trao tận tay từng người. Mẹ hết lòng yêu quý, chăm chút các chiến sĩ như con đẻ của mình… Mùa xuân năm 1975, đất nước thống nhất, Bắc - Nam sum họp, mẹ lại thao thức những đêm thâu mong đợi ngày con trở về. Nhưng thượng sĩ Vũ Văn Hoan, con trai duy nhất của mẹ đã anh dũng hy sinh tại chiến trường miền Nam ngày 15- 7-1969. Nỗi đau đớn lại lần nữa đến với mẹ. Cuộc tiễn đưa con đi chiến đấu cách đó trọn 10 năm cũng là cuộc biệt ly thứ hai trong đời mẹ… Hoàng hôn đã buông khuất sau dãy núi. Dáng mẹ tựa cửa tiễn chúng tôi như gợi lại hình ảnh tiễn chồng, tiễn con ra trận thuở nào. Bâng khuân đi dưới trời xanh hòa bình, trong náo nhiệt, hối hả của thời đổi mới, không cho phép chúng tôi quên đi những gì mà dân tộc ta phải trả giá để có hôm nay. Một tấm huân chương ghi công trạng. Một danh hiệu để mãi mãi ghi nhớ. Những tấm lòng và sự phụng dưỡng cho mỗi bà mẹ Việt Nam anh hùng là sự đền đáp ấm áp, nghĩa tình


