MẸ ĐẶNG THỊ TỨ – NGƯỜI MẸ KIÊN TRUNG, ÂM THẦM CHỞ CHE CÁCH MẠNG
Mẹ Đặng Thị Tứ (1903–1987) sinh năm Quý Mão 1903 trong một gia đình trung nông. Khi vừa đến tuổi trưởng thành, mẹ lập gia đình. Vợ chồng mẹ được cha mẹ chia cho năm mẫu ruộng cùng hơn một công vườn kiêm đất ở. Cuộc sống gia đình tuy không quá thiếu thốn, nhưng cũng như bao người phụ nữ thời bấy giờ, mẹ phải trải qua nhiều vất vả, nhọc nhằn. Mẹ sinh hạ mười người con, song chỉ có sáu người được nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành.
Sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, ba người con trai lớn của mẹ đều hăng hái tham gia phong trào cách mạng tại địa phương. Khi thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta, cả ba anh đều thoát ly gia đình, đi theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc. Anh Hai Phong (Nguyễn Thanh Phong) công tác tại cơ quan dân chính; anh Ba Đường (Nguyễn Quang Đường) tham gia bộ đội địa phương huyện Long Thành, kiên trì bám trụ chiến đấu trên chính mảnh đất quê hương; anh Tư Phiên (Nguyễn Hữu Dũng) được đào tạo trở thành y tá, phục vụ tại quân y viện Tỉnh đội Bà Rịa.
Từ ngày các con tham gia kháng chiến, ngôi nhà của mẹ trở thành một địa chỉ thân quen, nơi cán bộ và chiến sĩ cách mạng có thể tìm đến khi cần sự giúp đỡ. Nhà mẹ nằm ngay sát đường liên tỉnh 25, nơi quân địch thường xuyên qua lại, kiểm soát và dò xét. Biết gia đình có con đi theo Việt Minh, chúng nhiều lần đến xét hỏi, gây sức ép, bắt vợ chồng mẹ gọi các con trở về. Dẫu phải sống trong cảnh bị theo dõi, đe dọa, mẹ vẫn một lòng hướng về cách mạng. Mỗi khi cán bộ tỉnh, huyện, xã và bộ đội tranh thủ lúc địch vắng mặt ghé thăm, mẹ đều tận tình giúp đỡ bằng gạo, mắm và các loại thực phẩm cần thiết. Có những đêm, mẹ lặng lẽ nấu cơm cho cán bộ, chiến sĩ ăn rồi chuẩn bị thêm phần mang theo để tiếp tục hành trình công tác.
Từ một chiến sĩ, anh Nguyễn Quang Đường ngày càng trưởng thành qua những năm tháng chiến đấu gian khổ, trở thành Trung đội trưởng quân báo của Huyện đội Long Thành. Thế nhưng, ngày 11/11/1949, trong một chuyến công tác tại sở Aborati (Long Thành), anh không may lọt vào ổ phục kích của địch và anh dũng hy sinh. Đồng đội đưa thi hài anh về an táng tại rừng Phước Nguyên, xã Tam An. Mãi một thời gian sau, mẹ mới nhận được tin dữ. Nỗi đau mất con khiến trái tim người mẹ như thắt lại, nhưng căn nhà nằm ven đường, địch có thể bất ngờ ập đến bất cứ lúc nào, nên mẹ phải cố nén tiếng khóc. Chỉ khi màn đêm buông xuống, mẹ mới dám lặng lẽ khóc thương người con đã mãi mãi nằm lại nơi chiến trường. Dẫu đau đớn đến tận cùng, mẹ vẫn không khép lòng mình trước những người đồng chí của con. Mỗi lần cán bộ, chiến sĩ ghé qua, mẹ lại sẵn lòng chia sẻ gạo, tiền, thuốc men và thực phẩm. Không có điều kiện trực tiếp đến thăm các con, mẹ tranh thủ gửi theo những vật dụng cần thiết, mong góp phần chăm lo cho các con và đồng đội nơi chiến khu.
Tháng 10/1952, trận bão lụt Nhâm Thìn gây ra nhiều tổn thất, khiến phong trào kháng chiến ở miền Đông Nam Bộ càng thêm khó khăn. Lương thực, thực phẩm và thuốc men đều thiếu thốn, đời sống cán bộ, chiến sĩ vô cùng gian khổ. Trong hoàn cảnh ấy, anh Tư Phiên (Nguyễn Hữu Dũng), người y tá đã tận tụy góp phần cứu chữa cho hàng trăm thương binh trong những năm dài kháng chiến, không may mắc bệnh sốt rét ác tính vào tháng 10/1953. Do điều kiện thuốc men chữa trị thiếu thốn, anh đã hy sinh tại Hắc Dịch ngày 13/10/1953. Một lần nữa, mẹ Tứ phải chịu nỗi đau mất đi người con thân yêu. Nỗi đau ấy không thể giấu kín sau vẻ bình thản thường ngày; sự xót xa hiện rõ trên gương mặt người mẹ già. Hiệp định Genève năm 1954 được ký kết, đất nước tạm thời lập lại hòa bình, nhưng trong lòng mẹ, nỗi nhớ thương hai người con đã hy sinh vẫn chưa một ngày nguôi ngoai.
Dưới chế độ Ngô Đình Diệm, gia đình mẹ Đặng Thị Tứ tiếp tục bị chính quyền theo dõi, kiểm soát gắt gao. Nguyên nhân là anh Hai Phong (Nguyễn Thanh Phong) được bố trí ở lại địa phương hoạt động, xây dựng cơ sở cách mạng, tổ chức phong trào đấu tranh chính trị, đòi chính quyền miền Nam hiệp thương với miền Bắc, tiến tới tổng tuyển cử tự do, thống nhất đất nước. Dù phải sống giữa sự kìm kẹp và những mối đe dọa thường trực, mẹ vẫn âm thầm giữ vững niềm tin, tiếp tục chở che, ủng hộ con đường đấu tranh mà các con đã lựa chọn.
Sau cao trào Đồng khởi năm 1960, người con gái út của mẹ là Nguyễn Thị Huyền Ngân, thường gọi là Mười Ngân, khi ấy đang theo học tại quận lỵ Long Thành, được một số cán bộ xã, trong đó có đồng chí Hai Muôn, móc nối, giáo dục và vận động tham gia cách mạng. Tháng 2/1961, khi mới 17 tuổi, Mười Ngân quyết định bỏ học, thoát ly gia đình, trở thành y tá Trường Đảng Bà – Biên. Trong môi trường công tác đầy gian khó, cô luôn nhiệt tình, tận tụy, sẵn sàng nhận và cố gắng hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao, không ngại hiểm nguy. Lúc này, mẹ Tứ đã tuổi cao, sức yếu, trong khi chiến tranh ngày càng khốc liệt, Mười Ngân lại thường xuyên di chuyển, không có nơi ở cố định. Nỗi nhớ con gái luôn thường trực trong lòng, nhưng mẹ đành chấp nhận không thể đến thăm con như mong muốn.
Đầu tháng 11/1967, một đoàn vận tải hàng chiến lược có một số cán bộ, chiến sĩ bị đau ốm. Mười Ngân cùng một số đồng chí quân y được giao nhiệm vụ chăm sóc, điều trị cho anh chị em tại căn cứ Bàu Hàm. Ngày 4/11/1967, địch bất ngờ tổ chức cuộc đột kích vào căn cứ. Trong trận càn ấy, Mười Ngân cùng hai đồng chí khác đã anh dũng hy sinh. Tin dữ đến với mẹ sau một thời gian dài. Người mẹ đã từng chịu đựng hai lần mất con trai, nay lại phải đối diện với sự ra đi của người con gái út. Đôi mắt tưởng chừng đã cạn khô vì những năm tháng khóc thương, một lần nữa lại tuôn trào những giọt nước mắt đau đớn. Ba người con thân yêu đã lần lượt ngã xuống, để lại trong lòng mẹ những khoảng trống không gì có thể bù đắp.
Tháng 4/1975, đất nước hoàn toàn giải phóng, mẹ vui mừng khi người con trai đầu lòng Nguyễn Thanh Phong trở về sau những năm tháng hoạt động cách mạng. Niềm vui đoàn tụ sau bao năm xa cách vẫn không thể khỏa lấp nỗi đau mất mát. Điều khiến mẹ day dứt nhất là đến cuối đời vẫn không tìm được phần mộ, hài cốt của ba người con đã hy sinh. Bom đạn, chiến tranh và sự tàn phá của thời gian đã xóa nhòa dấu tích của biết bao người con ưu tú ngã xuống vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Với mẹ, niềm mong mỏi được tìm lại và đưa các con về bên gia đình đã trở thành nỗi niềm đau đáu không nguôi.
Mẹ Đặng Thị Tứ qua đời năm 1987, khép lại cuộc đời của một người phụ nữ giàu lòng yêu nước, kiên trung và son sắt với cách mạng. Những năm tháng chiến tranh, mẹ không trực tiếp cầm súng nơi chiến trường, nhưng bằng sự hy sinh thầm lặng, mẹ đã góp phần nuôi dưỡng, chở che và tiếp sức cho phong trào kháng chiến. Nỗi đau mất đi ba người con vì sự nghiệp giải phóng dân tộc là mất mát không gì bù đắp được, đồng thời cũng là minh chứng cho những hy sinh to lớn mà các gia đình cách mạng đã trải qua trong những năm tháng đấu tranh giành độc lập.
Ghi nhận những cống hiến và hy sinh cao cả ấy, Nhà nước đã truy tặng mẹ Đặng Thị Tứ danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng theo Quyết định số 394/KTCTN ngày 17/12/1994. Cuộc đời mẹ là hình ảnh đẹp về người mẹ Việt Nam giàu đức hy sinh, một lòng son sắt với quê hương, đất nước; dù phải chịu đựng những mất mát lớn lao vẫn không lay chuyển niềm tin vào con đường cách mạng. Tên tuổi và những cống hiến thầm lặng của mẹ mãi là niềm tri ân, sự kính trọng của các thế hệ hôm nay và mai sau.



