MẸ HOÀNG THỊ MẾN – NGƯỜI MẸ ĐI QUA NHỮNG NĂM THÁNG MẤT MÁT VÌ ĐỘC LẬP, TỰ DO
Sinh năm 1913 tại một làng quê chiêm trũng thuộc huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam cũ, Mẹ Hoàng Thị Mến lớn lên giữa cảnh nghèo khó, nơi cuộc sống người dân quanh năm phụ thuộc vào ruộng đồng và thường xuyên đối mặt với đói kém. Mong tìm một con đường đổi thay cuộc sống, giữa thập niên 1930, mẹ rời quê hương vào miền Nam mưu sinh bằng nghề buôn bán nhỏ. Sau những tháng ngày phiêu bạt, mẹ đến vùng Lộc Ninh, lập gia đình với ông Nguyễn Văn Phàn, một người đồng hương đang làm phu công tra tại đồn điền cao su. Từ đây, cuộc đời mẹ gắn bó với những người công nhân lao động và phong trào đấu tranh cách mạng trên vùng đất Nam Bộ.

Trong Cách mạng tháng Tám năm 1945, ông Nguyễn Văn Phàn tham gia Thanh niên Tiền phong, cùng nhân dân nổi dậy giành chính quyền tại địa phương. Khi thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta, thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy Thủ Dầu Một, công nhân các đồn điền cao su đồng loạt chặt phá cây, đốt nhà chế biến mủ, góp phần phá hoại cơ sở kinh tế của địch. Sau đó, nhiều gia đình công nhân rời bỏ đồn điền, chuyển sang làm những nghề khác. Gia đình mẹ Mến cũng nằm trong số ấy. Hai vợ chồng đưa đàn con nhỏ xuống xã Mỹ Thạnh Đông, huyện Đức Huệ, tỉnh Tân An (nay thuộc tỉnh Tây Ninh), khai khẩn ruộng đất, ổn định cuộc sống. Hòa mình với nhân dân địa phương, ông Phàn tích cực tham gia công tác cách mạng và được kết nạp Đảng trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp.
Sau Hiệp định Genève tháng 7/1954, chính quyền Ngô Đình Diệm đẩy mạnh các hoạt động khủng bố, đàn áp phong trào cách mạng bằng chính sách “tố cộng, diệt cộng”. Tại Long An, một địa bàn có phong trào đấu tranh mạnh mẽ và nằm gần Sài Gòn, địch ráo riết truy lùng cán bộ, khủng bố những người từng tham gia kháng chiến. Trong hoàn cảnh ấy, ông Nguyễn Văn Phàn tiếp tục hoạt động bí mật, được gia đình và bà con che chở, nuôi giấu. Còn mẹ Mến tham gia Hội Phụ nữ Giải phóng, hòa mình vào các cuộc đấu tranh chính trị của đội quân tóc dài, đồng thời đảm nhận việc nuôi giấu, tiếp tế lương thực, thực phẩm cho cán bộ và du kích địa phương. Những công việc tưởng chừng bình dị ấy đã trở thành sự đóng góp bền bỉ của mẹ đối với phong trào cách mạng.
Sau phong trào Đồng khởi Bến Tre tháng 1/1960, phong trào cách mạng ở miền Nam tiếp tục phát triển mạnh mẽ. Tháng 2/1962, người con trai Nguyễn Văn Sửu (Ba Sửu) tham gia đội du kích xã. Đến tháng 4/1963, người con trai Nguyễn Văn Định (Hai Định) thoát ly gia đình, làm công nhân rồi trở thành tổ trưởng in ấn của Ban Tuyên huấn tỉnh Long An. Có thời gian, cơ quan của anh phải hoạt động tại nhà mẹ trong một thời gian dài. Từ đó, gánh nặng gia đình càng thêm chồng chất. Mẹ vừa làm lụng nuôi chồng và hai con tham gia công tác cách mạng, vừa chăm lo đàn con nhỏ. Dẫu cuộc sống thiếu thốn, hiểm nguy luôn rình rập, mẹ vẫn âm thầm dành sức lực và tình thương của mình để chở che cho những người thân đang chiến đấu, phục vụ cách mạng.
Vùng đất Long An, với truyền thống “Trung dũng, kiên cường, toàn dân đánh giặc”, luôn là địa bàn bị địch tập trung càn quét, bình định. Đội du kích Mỹ Thạnh Đông nhiều lần kiên cường chống càn, tổ chức đánh địch trên sông Vàm Cỏ. Ngày 28/3/1967, trong một trận phục kích đánh tàu địch bên sông, người con trai Nguyễn Văn Sửu đã anh dũng hy sinh khi vũ khí vẫn còn trong tay. Nỗi đau mất con giáng xuống gia đình mẹ Mến. Cùng với các con và đồng đội của anh, mẹ lo việc chôn cất ngay trên phần đất của gia đình. Trải qua nhiều biến động, dấu tích ngôi mộ không còn, đến nay gia đình vẫn chưa tìm được hài cốt của anh.
Nỗi đau chưa kịp nguôi ngoai thì chưa đầy ba tháng sau, mẹ lại phải chịu thêm một mất mát lớn. Chiều ngày 16/6/1967, ông Nguyễn Văn Phàn, khi ấy là chi ủy viên, Phó ban Nông hội xã, bị thương nặng do bom địch trong lúc đi vận động bà con đóng góp cho cách mạng. Được gia đình và người dân đưa đến trạm y tế ở Đức Hòa cấp cứu, nhưng ông không qua khỏi và hy sinh ngay trong đêm. Giữa cảnh chiến tranh, gia đình phải chạy giặc, kinh tế vô cùng túng thiếu. Nhờ sự cảm thông của chủ trại hòm, người chỉ lấy một nửa tiền, gia đình mới có điều kiện lo hậu sự cho ông. Về sau, người thân nhiều lần tìm kiếm nhưng vẫn không xác định được nơi an nghỉ của ông.
Trước những đợt bom đạn và càn quét liên tiếp của địch, mẹ Mến đưa mấy người con nhỏ lên sinh sống tại ấp Bình Đa (nay thuộc phường An Bình, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai). Những tưởng sau hai lần chịu tang chồng và con, mẹ đã đi qua những mất mát lớn nhất của đời mình, nhưng chiến tranh vẫn chưa buông tha gia đình. Cuối tháng 11/1970, trong một chuyến trở về địa bàn Tân Biên để cất giấu chữ chì phục vụ công tác in ấn, anh Nguyễn Văn Định cùng một số đồng chí trong cơ quan bị địch phục kích. Anh hy sinh ngày 26/11/1970. Mãi về sau, mẹ Mến mới biết tin dữ về người con trai thứ hai. Gia đình tiếp tục dò hỏi, tìm kiếm nhưng vẫn chưa tìm được phần mộ của anh.
Ngày 30/4/1975, đất nước hoàn toàn giải phóng, non sông thu về một mối. Niềm vui thống nhất của dân tộc cũng là thời khắc nhiều gia đình được đón người thân trở về sau những năm tháng chiến tranh. Thế nhưng, với mẹ Hoàng Thị Mến, ngày hòa bình không còn trọn vẹn niềm vui đoàn tụ. Người chồng và hai người con trai thân yêu đã mãi mãi nằm lại trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do cho Tổ quốc. Những hy sinh ấy để lại khoảng trống không gì bù đắp được trong cuộc đời người mẹ. Mẹ qua đời năm 1977, chưa kịp hưởng các chế độ, chính sách dành cho người có công với cách mạng.
Dẫu không còn sống để chứng kiến sự ghi nhận của Đảng và Nhà nước, những đóng góp và hy sinh của mẹ vẫn được Tổ quốc trân trọng, khắc ghi. Ngày 17/12/1994, Nhà nước truy tặng mẹ danh hiệu cao quý Bà mẹ Việt Nam Anh hùng theo Quyết định số 394/KTCTN. Năm 2000, mẹ và gia đình được tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Ba. Đó không chỉ là sự ghi nhận đối với những hy sinh to lớn của một gia đình cách mạng, mà còn là lời tri ân sâu sắc dành cho người mẹ đã dành cả cuộc đời âm thầm chở che, nuôi dưỡng và tiễn đưa những người thân yêu của mình vào cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc.



