Bài viết

mẹ Huỳnh Thị Hồng

08/08/2026Xã Kon Braih (Đoàn Xã Kon Braih)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Mỗi ngày, mẹ vẫn tựa cửa, dõi đôi mắt mờ đục về phía sân, nhìn từng đoàn khách quốc tế dạo chơi quanh đảo. Mẹ cười rồi tự hỏi, mai mốt, xứ đảo mình có điện, không biết khách đông chừng mô nữa…

Sau tết, thời tiết xứ đảo thay đổi thất thường, đêm lạnh như cắt, ngày nắng như nung. Ở tuổi ngoài 80, mẹ Huỳnh Thị Hồng (Bà mẹ Việt Nam anh hùng duy nhất trên đảo Cù Lao Chàm, Tân Hiệp, Hội An) vẫn “ứng phó” tốt với thời tiết khắc nghiệt. “Nhằm nhò chi, mẹ chịu đựng quen rồi” - mẹ Hồng móm mém. Mẹ kể hồi đi hoạt động cách mạng, làm chi có ghe máy như bây giờ, cứ ngoáy dầm chèo ghe phồng rộp cả tay. Nhưng nhờ ghe chèo mà qua mắt bọn mật thám. Cứ thế, ban ngày từ Cửa Đại, mẹ chèo cả ghe hàng ra đảo, gánh chạy quanh xóm bán hàng, nắm thông tin, tối lại lợi dụng gió nồm căng buồm xuôi về lại bờ trong đêm. Có nhiều lần quay về bờ, gặp thời tiết xấu, không nhìn thấy sao trời nên bị lạc hướng, có khi ghe bị tấp vào tận Bình Đào (nay thuộc xã Bình Minh, huyện Thăng Bình), khi thì trôi ra tới ngoài Non Nước (TP.Đà Nẵng), rồi gặp ghe bà con đi biển, họ dắt về Cửa Đại…

Nguyên Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Đức Hải thăm Bà mẹ Việt Nam anh hùng Huỳnh Thị Hồng.Ảnh: MINH HẢI

Nguyên Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Đức Hải thăm Bà mẹ Việt Nam anh hùng Huỳnh Thị Hồng.Ảnh: MINH HẢI

Ngồi với tôi một lúc, mẹ Hồng quay nhìn gian thờ chính giữa nhà, nén nhang sắp hết. Mẹ chống gậy đứng dậy, đốt nén nhang mới. Tôi nghe mẹ khấn thầm: “Xương máu của ông, của con cùng các chiến sĩ đổ xuống, để đất nước thống nhất. Chừ cha con ông nhìn cảnh Tổ quốc thanh bình, quê hương đổi thay, chắc lòng tự hào. Tôi được Đảng, Nhà nước, con cháu chăm lo, sống khỏe”. Rồi mẹ Hồng nheo mắt nhìn tôi: “Mấy năm trước bà con người nào hơi khá giả một chút là rục rịch định vô đất liền, định bỏ đảo, thấy rứa, mẹ khuyên nên ở lại đảo làm ăn sẽ phát triển hơn, chứ làm biển mà bỏ biển thì răng giàu được. Anh em nghe lời mẹ chừ người mở nhà hàng, người xây nhà trọ, người sắm ca nô, khách ngày càng đông, người đi biển cũng trúng theo du lịch, ai cũng làm ăn khấm khá”.

Mẹ Hồng nhớ lại, là con thứ trong gia đình đông con, mới 15 tuổi đã mồ côi cha mẹ, cô bé Hồng ngày ấy phải làm thuê để có miếng ăn. Làng quê Duy Hải (Duy Xuyên) cát trắng của mẹ nghèo xơ, lại bị bom đạn địch cày xới liên miên. Hồi đó, mẹ là cô gái khá xinh xắn, nhanh nhẹn nên được bọn mật thám, rồi lính địa phương để ý. Lúc ấy các anh trong cơ sở cách mạng khuyên mẹ tham gia hoạt động, mẹ gật đầu ngay và được phân công làm liên lạc. Duyên phận như sắp sẵn, từ đây mẹ gặp anh Nguyễn Chừng là cán bộ xã. Cùng hoạt động cách mạng, càng ngày tình cảm hai người càng gắn bó. Tháng 9.1948, một đám cưới đơn sơ diễn ra dưới hầm. Vì giữ bí mật, cũng chẳng có sính lễ chi, không áo dài, không khăn đóng, chỉ có vài gói kẹo. Một vài anh, chị em cùng hoạt động ở cơ sở chứng kiến lễ cưới cho cô dâu, chú rể. Rứa là xong. Một năm sau, mẹ Hồng mang bầu, về nhà chuẩn bị sinh con, bọn lính địa phương đến đe nẹt, dọa dẫm: “Lạ đời, không chồng mà chửa. Lâu ni đi mô khống thấy? Bầu ni của ai”? “Mấy anh hỏi hay hỉ? Ai dám vô trồng khoai đất này. Anh mô muốn biết thì lên gặp huyện trưởng mà hỏi”. Đám lính quèn ấy từ trước đến giờ chỉ quanh quẩn ở làng, nghe hù huyện trưởng, cả đám lủi thủi về. Từ đó không thấy tên nào dám mò tới quấy rầy nữa.

Thời gian ấy, Nguyễn Chừng đi công tác liên tục, mình mẹ vừa nuôi con, vừa làm nhiệm vụ cơ sở. Để làm ám hiệu cho chồng và các đồng chí khác, mẹ Hồng lấy lọ hoa hồng bằng nhựa chưng ngoài sân, bữa nào địch không mai phục thì dựng nó lên, bữa nào có địch thì để rớt xuống đất, như bị gió xô ngã. Rồi mẹ đặt tên con gái là Nguyễn Thị Hồng. Khi các nhóm quân viễn chinh Mỹ đầu tiên đổ bộ lên Đà Nẵng, năm 1964, người dân xã Duy Nghĩa nổi lên hưởng ứng phong trào đồng khởi ở Duy Xuyên. Tham gia phong trào, Hồng làm giao liên, rồi tham gia du kích xã. Nhờ lanh lẹ, mưu trí, nhiều lần trực tiếp tham gia phá đồn địch, chặn đánh nhiều trận địch càn phá. Nguyễn Thị Hồng được cấp trên tin tưởng, phân công giữ chức trung đội trưởng du kích. Mẹ ngồi trầm ngâm một lúc, hớp ngụm nước lá lao và kể tiếp. Tháng 5.1965, địch mở nhiều cuộc tấn công quy mô lớn. Ngoài biển tàu chiến, trên bờ bộ binh, xe tăng máy bay gầm rú hỗ trợ. Chúng bao vây tứ phía, quyết chiếm lấy vùng đông Duy Xuyên. Đội du kích do con gái mẹ chỉ huy phối hợp bộ đội địa phương tổ chức đánh tàu chiến. Sau một ngày giao tranh, bắn cháy 2 tàu chiến, tiêu diệt hàng chục tên địch, không may Nguyễn Thị Hồng trúng pháo ca nông, bị thương nặng và hy sinh.

Đứa con duy nhất ngã xuống trên vùng cát, lòng mẹ như ngàn mũi tên xuyên thấu, rớm máu. Không cho phép mình ngã quỵ, mẹ kiên cường, nén nỗi đau vào lòng, tiếp tục hoạt động cách mạng. Nỗi đau chưa nguôi, năm 1974, tin dữ theo sóng trôi ra cù lao, anh Nguyễn Chừng, chồng mẹ bị địch phục kích. Anh hy sinh trên đường làm nhiệm vụ ở vùng trung Duy Xuyên. Không còn nước mắt khóc con, khóc chồng, mẹ giấu kỹ đau thương, vẫn từng ngày chèo thuyền vượt sóng ra đảo, tin đi – tin lại với đất liền, cho đến ngày đảo được giải phóng 29.3.1975.

Mẹ lại ngước nhìn ban thờ chồng con, chốc chốc hớp ngụm nước lá, như thói quen vốn dĩ của người già. Mùi nước lá lao, một đặc sản của đảo cứ thơm lừng lựng suốt câu chuyện mẹ kể…

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
mẹ Huỳnh Thị Hồng | Câu chuyện thời hoa lửa