Mẹ Huỳnh Thị Tân – Người mẹ của những người con đã hiến dâng tuổi xuân cho Tổ quốc
Mẹ Huỳnh Thị Tân, thường được người dân gọi thân thương là Má Tám, sinh năm 1910, quê ở Mỹ Quới, vùng đất nay thuộc thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng. Trong hai cuộc kháng chiến, Mẹ là một cơ sở cách mạng kiên cường, từng nuôi giấu cán bộ, chiến sĩ, vận chuyển lương thực và tham gia các phong trào đấu tranh ở địa phương. Mẹ nhiều lần bị địch bắt nhưng vẫn giữ vững khí tiết, không khuất phục. Điều đau thương nhất trong cuộc đời Mẹ là 5 người con trai và 1 người cháu nội đã hy sinh trong chiến tranh. Dù chịu mất mát vô cùng lớn, Mẹ vẫn kiên cường, động viên gia đình tiếp tục đóng góp cho cách mạng. Với những cống hiến và hy sinh ấy, Mẹ Huỳnh Thị Tân được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân và Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Mẹ qua đời năm 2005, để lại hình ảnh một người mẹ Nam Bộ giàu lòng yêu nước, kiên cường và giàu đức hy sinh. Câu chuyện về Mẹ là một trong những trang sử đẹp về người phụ nữ Sóc Trăng trong thời hoa lửa.
Có những câu chuyện về chiến tranh được kể bằng những trận đánh, những chiến công. Nhưng cũng có những câu chuyện được kể bằng sự hy sinh âm thầm của một người mẹ. Câu chuyện về Mẹ Huỳnh Thị Tân, người dân quen gọi thân thương là Má Tám, là một câu chuyện như thế.
Mẹ Huỳnh Thị Tân sinh năm 1910, tại làng Mỹ Quới, quận Phước Long, tỉnh Rạch Giá, vùng đất nay thuộc khu vực thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng. Tuổi thơ của Mẹ trải qua nhiều cơ cực. Theo tư liệu của Báo Sóc Trăng, Mẹ mồ côi cha mẹ từ khi còn rất nhỏ và được bà con hàng xóm cưu mang. Khi khoảng 9–10 tuổi, Mẹ phải đi ở cho địa chủ. Chính cuộc sống nghèo khó và những bất công của xã hội cũ đã hun đúc ở Mẹ một nghị lực sống mạnh mẽ.
Năm 1939, Mẹ cùng chồng là ông Nguyễn Văn Thuấn đến lập nghiệp tại làng Mỹ Quới, huyện Thạnh Trị. Từ vùng quê này, cuộc đời Mẹ gắn bó với phong trào cách mạng và những năm tháng đấu tranh của quê hương.
Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, gia đình Mẹ trở thành một cơ sở cách mạng, nuôi giấu hàng trăm cán bộ, chiến sĩ. Khi cách mạng cần lương thực, Mẹ không ngại hiểm nguy đi vào vùng ven mua lúa, đồng thời vận động nhân dân đóng góp cho kháng chiến. Theo các tư liệu được ghi nhận, Mẹ đã mang về cho cách mạng hơn 40 tấn lúa gạo.
Không chỉ làm công tác hậu cần, Mẹ còn trực tiếp tham gia phong trào đấu tranh. Năm 1946, trong những ngày đầu kháng chiến chống Pháp, quân và dân địa phương tổ chức đắp sông, ngăn đường nhằm bảo vệ vùng tự do và kìm chân địch. Mẹ Tám đã chỉ huy đội quân tóc dài của địa phương vót chông, phục vụ phong trào chiến tranh du kích.
Đến thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, Mẹ tiếp tục đảm nhận nhiều nhiệm vụ. Mẹ tham gia tiếp tế lương thực, vũ khí, đạn dược; làm công tác trinh sát, theo dõi tình hình địch và cung cấp tin tức cho bộ đội, du kích. Mẹ cũng nhiều lần dẫn đầu quần chúng đấu tranh chống địch gom dân, bắt lính. Theo tư liệu được Địa chí tỉnh Sóc Trăng và các bài viết lịch sử ghi nhận, Mẹ từng 4 lần bị địch bắt, nhưng vẫn giữ vững khí tiết, bảo vệ bí mật và an toàn cho cơ sở cách mạng.
Nhưng có lẽ, phần đau thương nhất trong cuộc đời Mẹ chính là những người con.
Những người con trai của Mẹ lần lượt lên đường theo tiếng gọi của quê hương. Nguyễn Văn Quyền nhập ngũ năm 1960; Nguyễn Văn Nhơn năm 1962; Nguyễn Văn Quận năm 1963; đến năm 1968, Nguyễn Văn Huẩn và Nguyễn Văn Phải (Nguyễn Trí Phải) cũng tiếp bước các anh ra trận. Người cháu nội Nguyễn Văn Dũ, con trai ông Nguyễn Văn Huẩn, cũng hy sinh trong chiến tranh.
Rồi những tin dữ lần lượt tìm về.
Năm 1963, Nguyễn Văn Quyền hy sinh. Hai năm sau, đến lượt Nguyễn Văn Quận. Năm 1970, Mẹ mất thêm Nguyễn Văn Huẩn và Nguyễn Văn Phải. Năm 1972, Nguyễn Văn Nhơn cũng hy sinh. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, Mẹ Tám đã mất 5 người con trai và 1 người cháu nội. Tài liệu tổng hợp của Đảng bộ tỉnh Sóc Trăng cũng xác nhận con số này.
Nỗi đau ấy không thể diễn tả hết bằng lời.
Theo lời kể của bà Nguyễn Thị Nghĩa, con gái Mẹ Tám, ban ngày Mẹ vẫn cố giữ vẻ bình thường, nhưng khi màn đêm buông xuống, Mẹ lại khóc thương những người con, người cháu đã hy sinh. Đó là nỗi đau mà một người mẹ phải âm thầm mang theo trong suốt những năm tháng còn lại của cuộc đời.
Thế nhưng, điều khiến mọi người kính phục ở Mẹ không chỉ là sự chịu đựng, mà còn là ý chí không khuất phục.
Năm 1977, Mẹ Tám tham dự Đại hội Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân tại Hà Nội. Tại đây, Mẹ đã nói về trách nhiệm của một người mẹ trong những năm đất nước còn chiến tranh: Mẹ cho rằng khi đất nước chưa được giải phóng, các con phải lên đường chiến đấu; còn Mẹ ở hậu phương làm nhiệm vụ của một người mẹ chiến sĩ, để các con yên tâm chiến đấu đến ngày toàn thắng.
Những lời ấy không phải là lời nói của một người mẹ không biết đau. Ngược lại, đó là lời của một người mẹ đã chịu đựng nỗi đau quá lớn nhưng vẫn đặt vận mệnh đất nước lên trên nỗi đau riêng của mình.
Với những đóng góp trong hai cuộc kháng chiến, Mẹ Huỳnh Thị Tân được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân và trao tặng Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Nhất vào năm 1978. Năm 1994, Mẹ được phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Năm 2013, Mẹ được truy tặng Huân chương Độc lập hạng Nhất.
Năm 2005, Mẹ Huỳnh Thị Tân qua đời.
Mẹ đã đi xa, nhưng câu chuyện về Mẹ vẫn còn ở lại với quê hương Sóc Trăng. Một người phụ nữ từng trải qua tuổi thơ cơ cực, một người mẹ đã tiễn lần lượt những người con và người cháu của mình ra chiến trường, một người cơ sở cách mạng từng nhiều lần đối mặt với hiểm nguy — tất cả đã tạo nên hình ảnh Má Tám Huỳnh Thị Tân, người phụ nữ được phong tặng hai danh hiệu cao quý: Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân và Bà mẹ Việt Nam anh hùng.
Chiến tranh đã lùi xa, nhưng sự hy sinh của Mẹ thì không bao giờ mất đi.
Hôm nay, thế hệ trẻ được sống trong hòa bình, được học tập, lao động và xây dựng quê hương, càng phải biết trân trọng những gì thế hệ cha anh đã đánh đổi. Câu chuyện về Mẹ Huỳnh Thị Tân không chỉ để chúng ta nhớ về một người mẹ anh hùng, mà còn để hiểu sâu sắc hơn giá trị của hòa bình, độc lập và lòng biết ơn.
Má Tám đã dành cả cuộc đời cho quê hương, đất nước. Và ký ức về Mẹ sẽ mãi là một phần của “thời hoa lửa” — nơi những người mẹ đã lặng thầm viết nên những trang sử bằng chính cuộc đời mình.



