Bài viết

MẸ HUỲNH THỊ XUYÊN

Phú Thọ27/11/2025Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

NGƯỜI MẸ "CƯỜNG QUYẾT"

(Mẹ VNAH Huỳnh Thị Xuyên – Vĩnh Thành)

Xã Vĩnh Thành là một trong 11 xã, thị trấn của huyện Chợ Lách, được biết đến không chỉ là nơi sinh ra một trong 18 vị được thế giới bình chọn “Thập bát văn hào” vào năm 1874 - Trương Vĩnh Ký, mà còn là vùng chuyên sản xuất, cung cấp cây giống hoa kiểng nổi tiếng khắp miền Tây Nam Bộ. Ngày xưa, nơi đây một thời là vùng địch chiếm đóng, chỉ khu Đồn Nhơn với Đại đội bảo an 108 ác ôn, người dân từng ngày phải đối mặt với quân thù. Nhiều người và nhiều gia đình đã đứng lên đánh giặc và anh dũng ngã xuống, trong đó phải kể đến gia đình mẹ Huỳnh Thị Xuyên, ở ấp Phú Hối, xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách. Mẹ có chồng và một con hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Mẹ sinh năm 1922, trong một gia đình có truyền thống cách mạng ở ấp Thanh Trung, xã Hưng Khánh Trung nay là xã Hưng Khánh Trung B, huyện Chợ Lách. Thuở nhỏ do sống trong thời buổi chiến tranh, việc phụ giúp gia đình, khi lớn lên, đến tên của mình mà Mẹ còn không biết viết nói chi đến việc làm cách mạng, lại là một người chuyên rải truyền đơn, cán bộ giao liên và du kích mặt nạ. Nếu không tìm hiểu về cuộc đời của Mẹ thì ít có ai tin được điều đó. Đúng vậy, Mẹ đã dành hết tuổi thanh xuân của mình cho hoạt động cách mạng.

Ngược dòng lịch sử, từ những năm hoạt động chống Pháp cho đến thời chống Mỹ, nếu tính thủ thì Mẹ đã trải qua hơn 20 năm làm công tác giao liên. Trong khoảng thời gian đó, không ai biết Mẹ đã chuyển bao nhiêu thứ từ, mật, bảng, bảng bao nhiêu đồn bốt địch. Chỉ biết mẹ là một chiến sĩ giao liên gan dạ, khôn khéo, là du kích mặt. Không những vậy, Mẹ còn là cán sự nhiệt tình, năng nổ hoạt động Hội phụ nữ xã Vĩnh Thành.

Vậy là, cuộc đời của Mẹ từ khi sinh ra đã gắn với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, rồi đến đến quốc Mỹ xâm lược. Là người sinh ra trên mảnh đất anh hùng, kế tục truyền thống cha ông, Mẹ lao vào cuộc kháng chiến. Trong những lần Mẹ đi rải truyền đơn mật, Mẹ gặp được ông Lê Văn Đài, ông lớn hơn Mẹ một tuổi, vốn là Xã đội chánh xã Vĩnh Thành, lại là Người quê với Mẹ. Vậy là Ông cưới Mẹ về làm vợ từ những năm đầu chống Pháp 1947 và sinh được bảy người con.

Chú Lê Văn Hùng - người con thứ sáu của Mẹ cho tôi biết: tuy Mẹ không biết chữ nhưng những lúc làm cách mạng hay đi công tác Mẹ rất cường quyết. Vì có tính cường quyết nên biết cách trong hoàn cảnh khó khăn gian khổ nào Mẹ cũng vượt qua, làm tốt nhiệm vụ của người giao liên, du kích mật liền xã Vĩnh Thành – Tân Thiềng. Có lần địch tổ chức ruồng bố, truy bắt cán bộ, bộ đội, hiếp người dân Hưng Khánh Trung vào năm 1960. Lúc đó, đứa con thứ sáu của Mẹ chưa tròn một tuổi, nhưng Mẹ gửi con lại cho người bà con hàng xóm chăm sóc, tham gia cùng với đoàn quần phụ nữ "đội quân tóc dài" ở xã Hưng Khánh Trung, xuống đường biểu tình, đấu tranh chính trị trực diện với bọn tay sai ác ôn và bị chúng bắt giải về huyện Mỏ Cày tra tấn, đánh đập nhưng Mẹ cường quyết không khai. Sau ba ngày giam cầm, Mẹ được thả tự do. Cũng từ đó Mẹ có bí danh là "Cường Quyết".

Sau khi trở về, Mẹ tìm cách liên lạc với các đồng chí giao liên huyện, xã mốc nối với cơ sở, đi đến đâu Mẹ rải truyền đơn đến đó, cô Lê Thị Châu, người con thứ bảy của Mẹ kể lại: "Lúc đó nhà không có truyền hình, phải đi xem nhờ ở nhà hàng xóm, Mẹ đi trước, cô đi sau. Thấy Mẹ rải truyền đơn nhưng không biết, cô đi sau lượm lại xem liền bị Mẹ rầy “Mấy muốn chết hả”. Nhưng gian khổ nhất là những tháng năm Mẹ làm giao liên mật, đem thư từ, đưa đón cán bộ nằm vùng, băng qua mương lưới đồn bốt dày đặc của địch. Đường chính thì không dám đi sợ chúng phát hiện mà phải băng đồng lội mương. Có lần, Mẹ đem cơm cho bộ đội đang bám trụ ở các lõm giải phóng như khu vực ngọn rạch Cái Sơn, khu Địa Cư, khu Vườn Trăm công . . . trên đường dụng phải bọn lính đi ruồng, Mẹ nhanh trí nhảy xuống mương, giả đò là người đi xúc cá lén giấu cơm để qua mắt chúng". Mẹ cũng đã chứng kiến rất nhiều chiến sĩ, bộ đội hy sinh. Mỗi lần như vậy càng hun đúc ở Mẹ ý chí cách mạng và lòng căm thù giặc sâu sắc.

Lúc 0 giờ ngày 11 tháng 8 năm 1954, lệnh ngừng bắn có hiệu lực tại tỉnh Bến Tre, khắp nơi trong tỉnh, huyện nhân dân biểu tình mừng chiến thắng. Thực hiện theo sự chỉ đạo của tỉnh, huyện đưa một số cán bộ tập kết ra Bắc. Trong số những cán bộ tập kết lần này có ông Lê Văn Đài - chồng Mẹ. Biết được tin Mẹ vừa mừng, vừa lo, mừng vì ông đã làm tốt nhiệm vụ và được tổ chức, đồng đội tin yêu cử đi tập kết ra Bắc. Mẹ lo, không biết rồi đây ở nhà một mình Mẹ với ba đứa con thơ, đứa lớn nhất vừa tròn sáu tuổi, đứa nhỏ nhất chưa đầy một tuổi, chưa ấp ở gọi được tiếng "ba... ba" thì Ông đã lên đường.

Chuyến tàu chở nặng nghĩa tình rời quê hương vào cuối năm 1954 và cũng đã cập bến Cà Mau kịp lúc, tiếp tục cuộc hành trình ra Bắc, nhưng khi đến đây thì đúng lúc nhận được tin quê nhà bọn giặc tổ chức đóng bót trở lại, bắt nhiều cán bộ đảng viên, Ông được tổ chức cho quay về bám lại địa bàn cùng nhân dân chiến đấu.

Nhận được tin Ông về, Mẹ mừng không xiết. Ông về đến nơi thì người con trai lớn của Mẹ, anh Lê Văn Mạnh chưa kịp gặp được mặt cha thì đã thoát ly đi du kích xã Vĩnh Thành.

Tết Mậu Thân 1968, ta đã giành được thắng lợi to lớn, được Trung ương Cục miền Nam phong tặng tám chữ vàng "Tấn công ba mặt, giết giặc mở vùng" nhưng số thương vong cũng quá lớn. Mẹ đang bồn chồn lo lắng cho đứa con của mình. Cùng vào chiều hôm ấy, ngày 9 tháng 01 năm 1968, Mẹ nghe tin - Lê Văn Mạnh đã bị địch bắn chết tại xã Long Thới trong trận đánh bót Bà Ướm. Nước mắt Mẹ cứ trào ra không sao cầm lại được, lòng Mẹ đau như cắt.

Sau cái chết của anh, nhiều đêm Mẹ không ngủ được cứ mơ mơ, màng màng nhìn thấy bóng con hiện về. Nhưng khi tỉnh lại thì bỗng nghe bên ngoài có tiếng chim từ đâu vọng lại như tiếng gọi "Mẹ... ơi!".

Nỗi buồn mất con chưa vơi, đồng nước mắt đau thương còn đó. Năm 1969, Mẹ lại nhận được tin, đồng chí Lê Văn Định bị địch bắn chết tại ấp Thanh Trung, xã Hưng Khánh Trung. Thế là vết thương cũ chưa lành, lại làm một lần nữa bị xé ra. Sự ra đi lần trước thì Mẹ còn ngóng trông, đời chờ ngày đoàn tụ. Nhưng sự ra đi lần này của Ông là không hẹn ngày về, Ông đã vĩnh viễn rời xa Mẹ, rời xa các con. Càng nghĩ, lòng Mẹ càng quặng đau, nỗi đau xuyên thấu từng thớ thịt. Nhưng khi nhìn thấy các con, Mẹ không thể gục ngã, phải cố chịu đựng, cố nén nỗi đau vào lòng, đứng lên vì năm đứa con còn lại rất cần đôi tay ấm áp của Mẹ.

Ngày quê hương hoàn toàn giải phóng, Mẹ vẫn tiếp tục công tác ở Hội phụ nữ xã Vĩnh Thành. Sau đó, Mẹ nghỉ hưu về sống cùng với các con tại ấp Vĩnh Hiệp. Các con, cháu của Mẹ cũng đã trưởng thành, có gia đình và đều tham gia công tác ở các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể của huyện, xã, tiếp nối truyền thống cha ông để lại.

Do tuổi cao sức yếu, năm 2009 trong một cơn bạo bệnh, Mẹ đã trút hơi thở sau cùng ở tuổi 87. Với những cống hiến to lớn cho sự nghiệp cách mạng, ngày 22 tháng 7 năm 2014 Mẹ được Nhà nước truy tặng danh hiệu "Bà Mẹ Việt Nam anh hùng".

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn