MẸ LÊ THỊ MÙI – MƯỜI NGƯỜI CON CHUNG MỘT LÝ TƯỞNG CÁCH MẠNG
Sinh năm 1904, quê tại làng Đức Thạnh, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi, Mẹ Lê Thị Mùi đã dành cả cuộc đời mình cho gia đình và cách mạng. Từ miền quê Quảng Ngãi, mẹ cùng chồng là ông Nguyễn Cách và các con đến sinh sống tại phường Tân Tiến, thành phố Biên Hòa. Tại nơi ở mới, ngôi nhà của gia đình mẹ không chỉ là mái ấm của mười người con mà còn trở thành một cơ sở cách mạng, nơi che chở, nuôi giấu nhiều cán bộ, chiến sĩ trong những năm tháng kháng chiến gian lao.
Cả mười người con, trai cũng như gái, đều tham gia cách mạng. Mẹ và chồng ở nhà đảm nhận việc nuôi giấu cán bộ, chiến sĩ, bảo vệ cơ sở và phục vụ phong trào. Trong khu vườn gia đình, những căn hầm bí mật được đào để che giấu lực lượng cách mạng. Mỗi khi có cuộc họp, mẹ làm nhiệm vụ cảnh giới, còn các con thay phiên nhau cõng cán bộ, chiến sĩ đến nơi an toàn nhằm tránh để lại dấu vết, không cho địch lần ra tung tích. Dù nhiều lần bị nghi ngờ, phục kích, quân địch vẫn không thể phát hiện được cơ sở của gia đình mẹ.
Sự kiên trung ấy phải đánh đổi bằng biết bao hiểm nguy. Nhà mẹ nhiều lần bị đốt phá, bản thân mẹ không ít lần bị bắt bớ, tra khảo, đánh đập chỉ vì tội nuôi giấu cán bộ và có những người con đi theo cách mạng. Thế nhưng, trước sự đàn áp tàn bạo của kẻ thù, mẹ vẫn không nao núng. Với mẹ, cho con tham gia cách mạng không phải là lựa chọn nhất thời, mà là niềm tin vào con đường đấu tranh chính nghĩa, vào khát vọng được sống trên quê hương mình trong độc lập, tự do, được ngẩng cao đầu mà không phải cúi mình trước kẻ thù.
Những năm cuối thập niên 1960, chiến tranh ngày càng khốc liệt. Địch liên tục tổ chức càn quét, đánh phá, truy lùng các cơ sở cách mạng, khiến gia đình mẹ phải gánh chịu những mất mát không gì bù đắp nổi. Năm 1966, người con Nguyễn Xuân Việt hy sinh. Năm 1967, Nguyễn Cường (tức Đô) hy sinh khi đang làm nhiệm vụ trong một trận oanh tạc của máy bay địch. Năm 1968, người con út Nguyễn Tiến Hưng, giữ chức Tiểu đội trưởng trong lực lượng vũ trang Quân khu 4, anh dũng hy sinh khi đang chiến đấu. Cũng trong năm ấy, chồng mẹ là ông Nguyễn Cách ngã xuống trước họng súng quân thù trong một cuộc chống càn. Đến năm 1969, người con Nguyễn Kiểm, đang hoạt động trong Nông hội xã, bị địch vây bắt và đánh đập dã man đến chết khi đang vận động, thu gom lương thực cho cách mạng.
Chỉ trong bốn năm liên tiếp, mẹ lần lượt mất chồng và bốn người con. Nỗi đau ấy quá lớn đối với một người mẹ, một người vợ đã dành trọn tình thương và niềm tin cho gia đình. Thế nhưng, mẹ vẫn gắng gượng đứng dậy, tiếp tục sống và giữ gìn những gì còn lại sau những tháng ngày tang thương. Khi vợ chồng anh Kiểm hy sinh, người con gái của anh chị là bé Cang mới vừa tròn ba tháng tuổi. Mẹ lại nhận thêm trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng cháu nội. Ngay cả những lúc bị địch bắt giam, cháu nhỏ cũng phải theo bà vào chốn lao tù bởi ở nhà không còn ai có thể chăm nom.
Mỗi khi nhắc đến những người con, mẹ khi thì say sưa kể lại chuyện cũ, khi lại nghẹn ngào rơi nước mắt. Ánh mắt mẹ hướng về bàn thờ gia đình, nơi những nén nhang được thắp lên mỗi ngày như một cách để mẹ cảm nhận chồng và các con vẫn còn hiện diện bên mình. Trong mười người con đều tham gia cách mạng, chỉ còn năm người sống sót, nhưng những người con ấy cũng phải chịu nhiều thương tích, tổn thương do bị địch bắt bớ, tra tấn. Mẹ vẫn tự an ủi rằng mình còn may mắn được gặp lại những người con còn sống. Riêng với những người đã hy sinh, mẹ luôn đau đáu một nỗi niềm: “Thằng Cường, thằng Việt, nó chết ở đâu, nằm ở đâu”. Đó không chỉ là câu hỏi của một người mẹ mong tìm được nơi yên nghỉ của con, mà còn là nỗi day dứt khôn nguôi trước những mất mát mà chiến tranh để lại.
Những năm tháng cuối đời, mẹ sống cùng người cháu nội mà mẹ hết mực thương yêu, đứa trẻ đã sớm chịu cảnh mồ côi cả cha lẫn mẹ khi còn quá nhỏ. Trong căn nhà tình nghĩa, mẹ được chính quyền địa phương và con cháu quan tâm, chăm sóc. Dẫu cuộc đời phải trải qua quá nhiều đau thương, mẹ vẫn cảm thấy mãn nguyện khi chứng kiến quê hương được hòa bình, đất nước thống nhất, nhân dân được sống trong độc lập và tự do. Mẹ tự hào vì những người con của mình đã góp sức vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc; tinh thần yêu nước, ý chí kiên cường ấy tiếp tục được các thế hệ con cháu gìn giữ và phát huy.
Với những hy sinh, cống hiến to lớn cho sự nghiệp cách mạng, Mẹ Lê Thị Mùi được Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý Bà mẹ Việt Nam Anh hùng theo Quyết định số 394/KTCTN ngày 17/12/1994. Mẹ qua đời năm 2003 tại phường Tân Tiến, thành phố Biên Hòa.



