Mẹ Lê Thị Nghê
Hình ảnh của bà Lê Thị Nghê thường được nhắc đến như biểu tượng của lòng yêu nước, sự kiên cường và đức hy sinh thầm lặng của những người mẹ Việt Nam trong chiến tranh.
Đầu tháng 10 năm 1969, vùng Trà Linh (nay là Linh Kiều, Hiệp Đức, Quảng Nam) chìm trong mưa bom lửa đạn. Sau những tổn thất nặng nề, quân Mỹ mở cuộc càn quét quy mô lớn vào khu căn cứ cách mạng ven thượng nguồn sông Thu Bồn. Hàng trăm người dân, trong đó có bà Lê Thị Nghê – một người mẹ trẻ vừa sinh con, chồng mới mất vì bom B-52 – phải theo du kích chạy vào ẩn náu trong hang Hòn Kẽm.
Những ngày trong hang là chuỗi thời gian kiệt quệ: đói khát, rét lạnh và nỗi sợ bị phát hiện luôn thường trực. Lương thực cạn dần, ai cũng kiệt sức, đặc biệt là trẻ nhỏ. Lúc bấy giờ, để sống, bất cứ ai cũng phải giữ im lặng tuyệt đối.Thế nhưng đứa bé 3 tháng tuổi còn quá nhỏ, mẹ đói quay quắt nên con cũng đói sữa. Ngày đêm đứa trẻ cứ khóc thét, dỗ kiểu gì cũng không chịu nín.
Đêm 8/10/1969, trời vẫn mưa, tiếng súng đì đùng ngày một gần, tiếng trẻ càng ngằn ngặt khóc vọng ra phía ngoài hang. Hàng trăm gương mặt hốc hác toát lên nỗi lo sợ, bàng hoàng hướng mắt về phía mẹ con bà Năm Nghê. Trước những ánh mắt ấy, người thiếu phụ đã ôm chặt núm ruột đang ngằn ngặt khóc vào lòng, rồi đi đến một quyết định bất ngờ: “Mẹ không muốn giết con, nhưng để dân làng được sống, con phải chết…”, vội cởi chiếc áo của mình quấn con lại, bà ôm con bò lên khỏi miệng hang. Mặc cho mưa rơi hòa lẫn nước mắt, bà dùng hai tay móc đất ướt lạnh chôn sống đứa con để cứu dân làng. Dưới ánh chớp của đạn pháo sáng, thấy lớp đất đang rục rịch, biết con quẫy đạp, người mẹ vẫn gạt nước mắt xóa dấu trên mặt đất. Vừa kịp tiếng lao xao của giặc tới gần, bà lao vào hang, cắn bật máu môi để không bật ra tiếng khóc.
Sau chiến tranh, gia đình bà gần như bị xóa sổ; những người thân đã mất vì bom đạn. Con gái duy nhất lớn lên trong cảnh thiếu thốn. Năm 25 tuổi, con gái bà . Bà Nghê sống lặng lẽ một mình trong căn nhà nhỏ.
Nỗi ám ảnh về cái đêm kinh hoàng giết con ngày càng bùng phát, khiến bà có dấu hiệu điên tỉnh lẫn lộn. Dù sau đó được con cháu canh giữ, trông nom , nhưng vẫn không cản được bước chân của bà lão.
Bà lão ngày ngày luôn miệng lẩm bẩm “phân trần” với con cháu và xóm làng: “Thằng Tân được mẹ mang lên miệng hầm chôn, nhưng 3 ngày sau thì mất dấu mộ rồi”.
Bà hóa điên, ngày ngày ôm chiếc khăn từng quấn con trai ngày xưa, đi khắp làng trên xóm dưới hát ru. Đêm mưa gió, bà lại đốt nhang, một mình vào rừng, miệng thì thào “phải tìm được mộ con”. Cứ sau mỗi lần lang thang như vậy, bà lại đau một trận thừa sống thiếu chết, hết tai biến, đến gãy tay chân, nhiều khi nằm viện cả tháng trời.
Đôi khi tỉnh táo, bà thẫn thờ rớt nước mắt: “Vì phải giết con, lại không tìm thấy xác nên tôi mới bị “trời hành”, muốn chết cũng không xong. Đói khổ, rách nát, ăn bốc ăn hốt dưới đất thế nào tôi cũng chịu, chỉ là đừng ai cản tôi đi tìm thằng Tân”.
Câu chuyện về bà Lê Thị Nghê không chỉ là một bi kịch cá nhân, mà còn là biểu tượng ám ảnh về sự tàn khốc của chiến tranh và sự hy sinh đến tận cùng của con người. Đó là nỗi đau không thể bù đắp, một vết thương kéo dài suốt cả đời người mẹ.



