MẸ LÊ THỊ THÀ - TẤM LÒNG NGƯỜI MẸ NƠI VÙNG ĐẤT TAM ĐA
Sinh ra và lớn lên trên vùng đất Tam Đa, người mẹ ấy đã dành phần lớn cuộc đời mình cho cách mạng, cho quê hương và đất nước. Những năm tháng kháng chiến đầy gian khó, mẹ không chỉ là hậu phương vững chắc của lực lượng cách mạng mà còn trực tiếp tham gia công tác, góp sức xây dựng phong trào ở địa phương. Dẫu phải chịu đựng nỗi đau mất đi cả hai người con trong cuộc đấu tranh giành độc lập, mẹ vẫn giữ vững niềm tin và tinh thần cống hiến. Đó là cuộc đời của Mẹ Việt Nam Anh hùng Lê Thị Thà.

Mẹ Lê Thị Thà sinh năm 1906 tại làng Tam Đa, xã Long Trường, quận Thủ Đức, tỉnh Gia Định (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Sinh trưởng trong một gia đình trung lưu có vườn, có ruộng, mẹ có điều kiện học tập từ thuở nhỏ. Khi lập gia đình, mẹ lần lượt sinh được hai người con là Nguyễn Thị Mạnh và Nguyễn Văn Mừng. Cuộc sống gia đình bình dị ấy sớm bị cuốn vào những biến động dữ dội của lịch sử khi thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta sau Cách mạng tháng Tám năm 1945.
Chồng mẹ, ông Nguyễn Văn Hung, thường gọi là Sáu Sừng, tham gia Thanh niên Tiền phong rồi Quốc gia tự vệ cuộc ở địa phương. Khi quân Pháp trở lại chiếm đóng vùng Thủ Đức, ông tham gia ban trinh sát, hoạt động vũ trang tuyên truyền, diệt tề trừ gian, đồng thời giải thích chủ trương của Mặt trận Việt Minh cho nhân dân và góp phần khôi phục các tổ chức cách mạng tại địa phương. Trong những năm tháng ấy, gia đình mẹ trở thành một bộ phận gắn bó mật thiết với phong trào kháng chiến.
Sau những hoạt động quân sự của lực lượng cách mạng, đến tháng 7/1947, quân Pháp phải rút khỏi vùng Bưng Sáu Xã. Nhà mẹ Lê Thị Thà cùng một số gia đình khác trong làng được sử dụng làm nơi đóng quân của bộ đội huyện. Mẹ, người thân trong gia đình và bà con lối xóm đã chung sức nuôi dưỡng, giúp đỡ bộ đội trong suốt một thời gian dài. Không chỉ đóng góp bằng sự tảo tần của người phụ nữ nơi hậu phương, mẹ còn trực tiếp tham gia công tác cách mạng. Với vốn kiến thức đã học, mẹ được phân công phụ trách công tác bình dân học vụ, phối hợp cùng đội ngũ giáo viên nghiệp dư tổ chức xóa nạn mù chữ theo chủ trương của Huyện ủy và Ủy ban Kháng chiến hành chính huyện Thủ Đức.
Tinh thần yêu nước của gia đình mẹ còn được thể hiện qua sự trưởng thành và lựa chọn của hai người con. Con gái Nguyễn Thị Mạnh tham gia Ban Chấp hành Thanh niên cứu quốc xã, tích cực hoạt động trong phong trào cách mạng. Nhân dịp Quốc khánh 2/9/1947, khi huyện tuyển chọn một số thanh niên bổ sung cho bộ đội, người con trai Nguyễn Văn Mừng cũng tình nguyện lên đường chiến đấu.
Ngày 28/1/1948, trong một trận càn lớn của địch vào xã Long Trường từ nhiều hướng, Nguyễn Thị Mạnh hy sinh tại rạch Cau, làng Tam Đa cùng một đồng đội. Nỗi đau mất con là mất mát không gì có thể bù đắp đối với mẹ Thà. Thế nhưng, mẹ không để đau thương làm chùn bước chân mình. Trái lại, mẹ tiếp tục hăng hái hoạt động, giữ vững tinh thần và niềm tin vào sự nghiệp đấu tranh của dân tộc. Với những đóng góp và quá trình phấn đấu của mình, mẹ được tổ chức tin tưởng kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương.
Người con trai Nguyễn Văn Mừng tiếp tục chiến đấu, hoàn thành những nhiệm vụ được giao. Nhưng chiến tranh một lần nữa đưa đến cho mẹ nỗi đau khôn nguôi. Đêm 8/12/1951, sau một trận đánh tại xã An Phú, huyện Thủ Đức, anh Mừng trúng đạn pháo của địch và anh dũng hy sinh. Chỉ trong vài năm, mẹ đã lần lượt tiễn biệt cả hai người con thân yêu. Ông Sáu Sừng và mẹ phải gánh chịu nỗi đau quá lớn, trong khi tuổi đời ngày càng cao, tương lai phía trước cũng trở nên chông chênh giữa những năm tháng chiến tranh khốc liệt.
Năm 1962, khi địch thực hiện chủ trương dồn dân, lập ấp chiến lược tại Tam Đa, vợ chồng mẹ không còn điều kiện tiếp tục sinh sống ở quê nhà nên phải lên Biên Hòa làm ăn. Vài năm sau, ông Sáu Sừng qua đời, để lại mẹ một mình tiếp tục cuộc sống. Bằng sự chắt chiu và lao động cần cù, mẹ tích góp tài sản, xây dựng một dãy phố gồm mười căn để cho thuê, làm chỗ dựa cho những năm tháng tuổi già.
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, dù cuộc đời đã trải qua quá nhiều mất mát, mẹ vẫn tiếp tục thể hiện tấm lòng đối với đất nước. Mẹ đã hiến tặng chín căn phố cho Nhà nước, một nghĩa cử cao đẹp thể hiện tinh thần cống hiến và tấm lòng son sắt của người mẹ từng dành cả gia đình cho sự nghiệp cách mạng. Mẹ qua đời năm 1978, sau hơn một năm được hưởng chính sách của Nhà nước.
Ghi nhận những hy sinh, đóng góp to lớn của mẹ và gia đình, năm 1985, Nhà nước đã tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Ba. Ngày 17/12/1994, theo Quyết định số 394/KTCTN, mẹ Lê Thị Thà được truy tặng danh hiệu cao quý Bà mẹ Việt Nam Anh hùng.
Cuộc đời Mẹ Lê Thị Thà là minh chứng cho phẩm chất kiên trung, giàu lòng yêu nước của người phụ nữ Việt Nam trong những năm tháng chiến tranh. Từ việc nuôi dưỡng, che chở cán bộ, bộ đội, tham gia phong trào bình dân học vụ đến sự hy sinh của hai người con và nghĩa cử hiến tặng tài sản sau ngày thống nhất, mỗi chặng đường đời của mẹ đều gắn với những đóng góp thiết thực cho cách mạng. Dẫu mẹ đã đi xa, tấm lòng và những hy sinh thầm lặng ấy vẫn còn được lưu giữ trong ký ức quê hương, trở thành lời nhắc nhở các thế hệ hôm nay về giá trị của lòng yêu nước, tinh thần trách nhiệm và sự cống hiến cho cộng đồng, đất nước.



