MẸ LÊ THỊ TUYẾT – NGỌN LỬA BỀN BỈ GIỮA THỜI HOA LỬA
Giữa những năm tháng chiến tranh khốc liệt của quê hương Trà Vinh, Mẹ Việt Nam anh hùng Lê Thị Tuyết đã lặng lẽ hiến dâng cả tuổi xuân và cuộc đời mình cho cách mạng. Mất chồng, mất con nhưng không khuất phục, mẹ biến đau thương thành ý chí, kiên cường bám trụ chiến trường, nuôi giấu cán bộ, vận động quần chúng và góp sức làm nên ngày đất nước hòa bình. Cuộc đời mẹ là bản hùng ca thầm lặng về lòng trung kiên, đức hy sinh và tình yêu Tổ quốc sâu nặng của người phụ nữ Việt Nam trong thời hoa lửa.
Buổi sáng sớm cuối tháng 7, trong tiết trời dịu nhẹ của miền sông nước Trà Vinh, chúng tôi tìm đến thăm Mẹ Việt Nam anh hùng Lê Thị Tuyết, năm nay đã 93 tuổi, đang sống tại ấp Ba Tục, xã Trà Cú. Dù tuổi cao, mắt đã mờ, chân đã yếu, nhưng mỗi lần có người đến thăm, mẹ đều vui mừng như gặp lại người thân lâu năm. Bàn tay xương xẩu run run nắm lấy tay chúng tôi, ánh mắt rạng rỡ xen chút bùi ngùi khi nhớ về những năm tháng mà cả cuộc đời mẹ đã dành cho cách mạng.
Trong những năm tháng tuổi trẻ dấn thân vì Tổ Quốc, Mẹ Lê Thị Tuyết sinh năm 1933 tại xã Thanh Sơn (cũ), huyện Trà Cú. Tuổi thơ của mẹ gắn liền với những ngày tháng lam lũ, vất vả nhưng cũng thấm đượm tinh thần yêu quê hương, thương đồng bào đang bị áp bức trong thời kỳ kháng chiến.
Năm 1952, mẹ nên duyên cùng đồng chí Nguyễn Văn Nguy – người bạn thanh mai trúc mã, cũng là chiến sĩ gan dạ của Tiểu đoàn 307, đơn vị lừng danh một thời. Sau khi lập gia đình, cả hai vợ chồng tiếp tục tham gia hoạt động cách mạng. Mẹ tham gia phong trào phụ nữ xã Thanh Sơn, rồi chuyển sang công tác hậu cần, tải thương. Đến năm 1954, mẹ và chồng được đưa đi học chính trị tại Cà Mau – đánh dấu bước ngoặt trong hành trình cống hiến của mẹ. Năm 1960, mẹ trở về xã Ngãi Xuyên, tham gia vận động thành lập lực lượng vũ trang địa phương, bám trụ chiến trường cho đến ngày giải phóng năm 1975. Sau năm 1975, mẹ tiếp tục đóng góp cho xã hội với vai trò Chủ tịch Hội Phụ nữ xã Ngãi Xuyên, đến năm 1990 mới nghỉ hưu và làm Chi hội trưởng Chi hội Cựu chiến binh ấp Ba Tục. Hơn nửa đời người, mẹ sống trọn nghĩa tình với quê hương cách mạng.
Trong suốt cuộc trò chuyện, có những lúc mẹ kể bằng giọng tự hào, nhưng đôi khi giọng mẹ như nghẹn lại. Mỗi khi nhắc đến chồng và con trai cả, đôi mắt mẹ lại thẫm buồn, như khẽ rưng rưng về nỗi đau mất chồng, mất con khắc sâu trên gương mặt của người mẹ anh hùng.
Chồng mẹ – liệt sĩ Nguyễn Văn Nguy – tham gia cách mạng từ năm 1946, chiến đấu không biết mệt mỏi trong hàng ngũ Tiểu đoàn 307. Đó là đơn vị nổi tiếng với những chiến công vang dội, những trận đánh oanh liệt khiến kẻ thù phải khiếp đảm. Ngày 18 tháng 6 năm 1964, ông hi sinh tại mặt trận xã Đôn Châu. Nhận được tin chồng mất, mẹ Tuyết như chết lặng. Bảy người con thơ còn đang chờ mẹ bên mái nhà nghèo. Nhưng mẹ hiểu: nước còn, nhà mới còn. Nén nỗi đau, mẹ biến mất mát thành sức mạnh để tiếp tục hoạt động cách mạng và nuôi các con khôn lớn.
Theo bước cha, ngày 6 tháng 1 năm 1968, người con trai lớn của mẹ – Nguyễn Văn Bạch – tham gia cách mạng. Không chỉ giỏi giang mà còn dũng cảm, anh nhanh chóng trở thành Trung đội trưởng, rồi chiến đấu quả cảm trong Tiểu đoàn 306. Nhưng rồi, ngày 16 tháng 6 năm 1971, tại mặt trận xã Long Hiệp, anh Bạch anh dũng hi sinh. Hai lần nhận tin dữ, trái tim mẹ như bị ai bóp nghẹt. Mất chồng đã đau, mất thêm con lại càng như xé gan. “Mẹ tưởng như không còn đứng nổi” – mẹ kể – nhưng rồi lại gạt nước mắt, tiếp tục bám chiến trường, tiếp tục cùng đồng đội góp sức giải phóng quê hương. “Càng đau, mẹ càng căm thù giặc, càng muốn làm nhiều hơn cho đồng bào mình” – mẹ nói.
Mẹ tham gia vận động phụ nữ địa phương đấu tranh đòi chồng, đòi con bị giặc bắt đi lính. Nhiều lần, mẹ cùng các chị em vào tận bót địch, yêu cầu thả người. Mẹ còn nhờ các vị sư Khmer vận động thanh niên trong chùa không đi lính cho giặc, không gây cảnh máu đổ cho đồng bào mình. Đó là những đóng góp thầm lặng mà mạnh mẽ, góp phần đẩy lùi quân thù, làm nên chiến thắng sau này. Cho thấy mẹ là người phụ nữ rất kiên cường trong phong trào cách mạng Với những cống hiến lớn lao, mẹ được Đảng, Nhà nước ghi nhận bằng nhiều phần thưởng cao quý: Danh hiệu Bà Mẹ Việt Nam anh hùng, huân chương Kháng chiến hạng nhất, huy chương vì sự nghiệp giải phóng phụ nữ, huy hiệu 40 năm tuổi Đảng và nhiều phần thưởng khác. Mẹ Tuyết xúc động nhớ lại: “Có lần gặp đồng chí Nguyễn Thị Kim Ngân – Chủ tịch Quốc hội đến thăm, mẹ vui lắm. Mẹ mong các cô chú lãnh đạo tiếp tục xây dựng đất nước mạnh hơn nữa, dân mình được ấm no hơn nữa…”. Dù tuổi cao, mẹ vẫn đều đặn xem thời sự mỗi tối. Mẹ quan tâm từng thành tựu của tỉnh, của đất nước, và luôn phấn khởi khi thấy đời sống người dân ngày một tốt hơn. Nhắc đến dịp họp mặt 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, mẹ rơm rớm vì gặp lại đồng đội cũ, ôn lại những tháng ngày chiến đấu gian khổ. Có lần mẹ được đưa ra Hà Nội điều dưỡng, được vào Lăng viếng Bác. “Nhìn Bác, mẹ khóc. Mẹ nghĩ về những hi sinh của Người, rồi nhớ chồng, nhớ con, nhớ cả đồng đội đã nằm xuống…” – mẹ nói mà tay nắm chặt vạt áo.
Cuộc đời mẹ Lê Thị Tuyết – từ tuổi trẻ sôi nổi, thời chiến khốc liệt, những mất mát đến tận cùng, cho đến những năm tháng hòa bình yên ả – là bản hùng ca của lòng trung kiên, sự hy sinh và tình yêu đất nước vô bờ bến. Chúng tôi rời nhà mẹ khi trời đã đứng bóng. Những câu chuyện mẹ kể, ánh mắt mẹ nhìn xa xăm, và nỗi đau hòa cùng niềm tự hào thấm vào lòng mỗi người. Chúng tôi hiểu rằng: thế hệ trẻ hôm nay phải sống xứng đáng với sự hy sinh ấy. Tri ân mẹ, tri ân những người đã ngã xuống vì tự do của Tổ quốc, chúng ta nguyện tiếp tục: quan tâm chăm sóc Mẹ Việt Nam anh hùng, xây dựng quê hương giàu đẹp, đóng góp vào quỹ đền ơn đáp nghĩa, chăm lo phần mộ liệt sĩ và đặc biệt dạy thế hệ trẻ biết yêu nước, biết nhớ ơn người đi trước. Xin kính chúc Mẹ Việt Nam anh hùng Lê Thị Tuyết luôn mạnh khỏe, sống thật lâu, thật vui bên con cháu và trong tình yêu thương của đồng bào cả nước.



