MẸ LƯƠNG THỊ THÌN – NGƯỜI MẸ KIÊN TRUNG GIỮA NHỮNG NĂM THÁNG KHÁNG CHIẾN
Sinh năm 1896 tại Đồng Ván, xã Tân Ba, quận Tân Uyên, tỉnh Biên Hòa xưa (nay thuộc tỉnh Bình Dương theo tư liệu), Mẹ Lương Thị Thìn lớn lên trong một gia đình nề nếp, coi trọng lễ giáo. Thế nhưng, trước những biến động của thời cuộc, mẹ đã vượt qua những khuôn phép khắt khe để lựa chọn con đường gắn bó với người yêu nước, rồi dành trọn cuộc đời mình cho cách mạng bằng lòng son sắt và đức hy sinh cao cả.

Thuở thiếu nữ, mẹ quen biết anh Đỗ Văn Thượng, người xã Phước Lai, quận Long Thành. Vì tham gia hội kín chống thực dân Pháp, thường được nhân dân gọi là Thiên địa hội, anh Thượng bị chính quyền thực dân bắt giam tại Khám Lớn Biên Hòa vào khoảng giữa thập niên 1910. Cảm phục tinh thần yêu nước của người thanh niên ấy, mẹ nhiều lần lén gia đình đến thăm nuôi. Tình cảm giữa hai người lớn dần qua những lần gặp gỡ nơi lao tù, vượt lên sự ngăn cách của song sắt và những định kiến đương thời.
Sau khi anh Thượng được tha, gia đình anh từ Long Thành đến Tân Ba ngỏ ý làm lễ hỏi cưới. Tuy nhiên, gia đình mẹ phản đối vì cho rằng người từng bị tù không xứng đáng làm rể trong một gia đình có gia giáo. Bất chấp sự ngăn cản của cha mẹ, mẹ Thìn quyết định gắn bó với người mình yêu, cùng anh đến xóm Trầu, xã Long An, Long Thành để làm ăn, sinh sống mà không theo nghi thức cưới hỏi truyền thống. Hai người có với nhau sáu người con: Lương Văn Nho, Lương Thị Xuyến, Lương Văn Chẩn, Lương Thị Mẫn, Đỗ Văn Buông và Đỗ Thị Cúc. Mẹ chăm lo cho các con ăn học, đồng thời luôn nhắc nhở về cội nguồn gia đình, hun đúc trong các con tinh thần yêu nước và ý chí tiếp bước cha.
Khoảng năm 1943, đồng chí Trịnh Văn Dục, cán bộ Đảng quê Thanh Hóa, được Xứ ủy Nam Kỳ điều về gây dựng phong trào cách mạng trong công nhân đồn điền cao su Long Thành. Hoạt động dưới những vỏ bọc như người bán thuốc lào hay người mua lúa cho ngựa đồn điền, đồng chí được nhiều người biết đến với tên gọi Thầy Ba thuốc lào. Gia đình mẹ Thìn đã đón nhận, nuôi giấu và giúp đỡ đồng chí trong quá trình hoạt động. Từ sự gắn bó ấy, đồng chí Trịnh Văn Dục nhận mẹ làm mẹ nuôi.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 bùng lên, thị trấn Long Thành giành chính quyền vào sáng ngày 24/8/1945, trở thành nơi giành chính quyền đầu tiên trong tỉnh Biên Hòa xưa theo tư liệu. Đồng chí Trịnh Văn Dục được cử làm Chủ tịch Ủy ban nhân dân lâm thời huyện Long Thành. Trong khí thế cách mạng sục sôi, những người con của mẹ Thìn lần lượt tham gia kháng chiến. Anh Lương Văn Nho, thường gọi là Hai Nho, từ một công chức Sở Kho bạc Biên Hòa trở thành Ủy viên tài chính huyện, sau đó giữ chức Đại đội trưởng Đại đội C, Chi đội 10; trải qua hai cuộc kháng chiến và được phong quân hàm Thiếu tướng Quân đội nhân dân Việt Nam. Anh Lương Văn Chẩn tham gia bộ đội Mai Văn Vĩnh, thuộc Trung đoàn 307; anh Đỗ Văn Buông gia nhập Trung đoàn 330. Các chị Lương Thị Xuyến, Lương Thị Mẫn tham gia công tác thanh niên, phụ nữ ở địa phương. Cô con gái út Đỗ Thị Cúc khi chưa đầy mười tuổi đã tham gia đội văn nghệ tuyên truyền xung phong; sau này tiếp tục hoạt động cách mạng, làm công tác cứu thương, tập kết ra Bắc và được đào tạo trở thành bác sĩ.
Không chỉ nuôi dạy những người con giàu lòng yêu nước, mẹ Thìn còn hết lòng đóng góp gạo, tiền và tài sản để nuôi dưỡng cán bộ, bộ đội, du kích. Mái nhà xóm Trầu trở thành nơi gửi gắm niềm tin, tình thương và sự chở che dành cho những người hoạt động cách mạng. Với mẹ, giúp đỡ kháng chiến không phải là điều gì xa vời, mà là trách nhiệm xuất phát từ lòng yêu nước và sự gắn bó với những người đang đấu tranh giành độc lập cho dân tộc.
Ngày 7/2/1946, thực dân Pháp mở cuộc càn quét vào xã Long An, đốt cháy hơn 200 nóc nhà; riêng xóm Trầu, khoảng 90% nhà cửa bị thiêu rụi. Chúng bắt khoảng 50 người dân khiêng gánh tài sản cướp được về quận lỵ Long Thành và sát hại tám người, trong đó có mẹ Lương Thị Thìn. Do biết mẹ có con nuôi là Bí thư Huyện ủy kiêm Chủ tịch huyện, còn các con ruột đều tham gia kháng chiến, một tên chỉ điểm đã báo cho quân Pháp. Bị địch bắt giữ, đánh đập và tra khảo tàn nhẫn nhằm moi tin tức về các con, mẹ vẫn kiên quyết giữ kín bí mật. Cuối cùng, mẹ bị bắn chết sau những trận đòn man rợ, thi thể vắt trên hàng rào nhà.
Sự hy sinh của mẹ là mất mát lớn lao đối với gia đình, đồng thời khắc ghi tấm gương bất khuất của người phụ nữ đã đặt lòng trung thành với cách mạng lên trên cả sự an nguy của bản thân. Mẹ được ghi nhận là một trong những liệt sĩ đầu tiên của xã Long An.
Bi kịch chưa dừng lại ở đó. Ngày 19/2/1946, trong trận càn của địch vào xã Phước Thọ, anh Lương Văn Chẩn hy sinh bên cây súng máy và những vỏ đạn sau khi được giao nhiệm vụ bảo vệ hỏa lực của đơn vị. Anh Đỗ Văn Buông, sau nhiều trận chiến đấu và được giao chức vụ đại đội phó, cũng hy sinh vì máy bay địch tại Chiến khu Đ ngày 30/6/1952. Hai người con gái Lương Thị Xuyến và Lương Thị Mẫn tiếp tục hoạt động, dù nhiều lần bị địch khủng bố, bắt bớ. Riêng chị Xuyến từng bị địch tìm cách mua chuộc, ép buộc móc nối để kêu gọi anh Lương Văn Nho chiêu hồi nhưng chị kiên quyết từ chối. Năm 1971, chị tiếp tục bị bắt, tra tấn dã man, dẫn đến tổn thương nội tạng và qua đời ngày 24/2/1972.
Cuộc đời Mẹ Lương Thị Thìn là câu chuyện về một người mẹ bình dị nhưng có ý chí phi thường. Từ sự lựa chọn vượt qua định kiến để gắn bó với người yêu nước đến những năm tháng nuôi giấu cán bộ, đóng góp cho kháng chiến và giữ vững khí tiết trước đòn roi của kẻ thù, mẹ đã để lại một tấm gương sáng về lòng yêu nước, đức hy sinh và sự kiên trung. Gia đình mẹ là minh chứng cho tinh thần một lòng theo cách mạng, khi nhiều người thân lần lượt dấn thân vào cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc.
Ghi nhận những cống hiến và hy sinh ấy, ngày 27/8/1995, mẹ được Nhà nước truy tặng danh hiệu cao quý Bà mẹ Việt Nam anh hùng theo Quyết định số 522/KTCTN. Dẫu mẹ đã nằm xuống giữa những ngày đầu kháng chiến đầy gian khó, tấm lòng son sắt của mẹ vẫn còn nguyên giá trị. Câu chuyện về mẹ nhắc nhở các thế hệ hôm nay trân trọng hòa bình, biết ơn những người đã hy sinh vì Tổ quốc và tiếp nối truyền thống yêu nước bằng những hành động thiết thực trong cuộc sống.



